vanban.org

Bản án 22/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Thị Cẩm Vân.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm Vân được ly hôn với anh Nguyễn Tiến Dũng. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01-2005 ngày 04/3/2005 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Thị Cẩm Vân.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-02-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Phi Công

2. Ông Nguyễn Văn Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 400/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/01/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm Vân, sinh năm: 1983

Địa chỉ: ấp 7, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm: 1977

Địa chỉ: ấp 7, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm Vân trình bày: Chị và anh Nguyễn Tiến Dũng tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không còn yêu thương nhau nữa nên không thể có tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh chị không quan tâm đến nhau mà bỏ mặc nhau. Nay chị không còn tình cảm gì với anh Dũng nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh Dũng.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Nguyễn Lê Anh Tuấn, sinh ngày: 30/3/2007; Nguyễn Lê Anh Thư, sinh ngày: 18/9/2012. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu Tuấn, cháu Thư và không yêu cầu anh Dũng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Vân trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Vân trình bày không có nợ chung.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Tiến Dũng được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng anh Nguyễn Tiến Dũng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của anh Nguyễn Tiến Dũng đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Cẩm Vân.

Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lê Thị Cẩm Vân được ly hôn với anh Nguyễn Tiến Dũng.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Anh Tuấn; cháu Nguyễn Lê Anh Thư cho chị Vân nuôi dưỡng, chị Vân không yêu cầu anh Dũng cấp nuôi con nên tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho anh Dũng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vân khai không có, anh Dũng không có lời khai nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Cẩm Vân có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Tiến Dũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị Cẩm Vân theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến Dũng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vân, anh Dũng tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, nhận thấy: Chị Vân trình bày nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không còn yêu thương nhau nữa nên không thể có tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh chị không quan tâm đến nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 15/10/2021 tại ấp 7, xã Xuân Tâm (bút lục số 31) thể hiện anh Nguyễn Tiến Dũng có hộ khẩu thường trú tại ấp 7, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và hiện nay Dũng đang cư trú và sinh sống tại địa phương; về quan hệ hôn nhân hiện nay chị Vân, anh Dũng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Trong quá trình làm việc, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Dũng đến tham gia các buổi làm việc, hòa giải đoàn tụ, xét xử nhưng anh Dũng vắng mặt không có lý do chính đáng. Thấy rằng, chị Vân cương quyết xin ly hôn nhưng anh Dũng không có nỗ lực thật sự để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng dù Tòa án đã tạo điều kiện để vợ chồng hòa giải đoàn tụ nên tình trạng hôn nhân của chị Vân và anh Dũng mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vân là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Lê Anh Tuấn, sinh ngày: 30/3/2007; Nguyễn Lê Anh Thư, sinh ngày: 18/9/2012. Chị Vân yêu cầu được nuôi cả 2 con chung. Xét thấy hiện nay các cháu đang do chị Lê Thị Cẩm Vân trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay; và các cháu Nguyễn Lê Anh Tuấn, Nguyễn Lê Anh Thư đều trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ nên giao cháu Tuấn, cháu Thư cho chị Vân nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vân tạm thời không yêu cầu anh Dũng cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Vân không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về nợ chung: Chị Vân trình bày không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Chị Vân phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khỏan 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Thị Cẩm Vân.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm Vân được ly hôn với anh Nguyễn Tiến Dũng.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01-2005 ngày 04/3/2005 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Lê Anh Tuấn, sinh ngày 30/3/2007; Nguyễn Lê Anh Thư, sinh ngày: 18/9/2012 cho chị Lê Thị Cẩm Vân trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Cẩm Vân tạm thời không yêu cầu anh Nguyễn Tiến Dũng cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Anh Nguyễn Tiến Dũng được quyền thăm nom con chung nhưng không được gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lê Thị Cẩm Vân. Khi cần thiết, anh Nguyễn Tiến Dũng, chị Lê Thị Cẩm Vân được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Lê Thị Cẩm Vân phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Vân đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006821 ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Chị Lê Thị Cẩm Vân đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Cẩm Vân, anh Nguyễn Tiến Dũng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ