- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Diễm - Cơ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giả…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày 23-8-2022 V/v xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Việt Hồng và bà Lường Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thúy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2022/TLST ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Ngọc D, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Tổ 1B, khu HQV, P GC, TP VT, tỉnh PT.
Dân tộc: Kinh; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
(có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1994.
Trú tại: Xóm N, xã LM, huyện VN, tỉnh TN.
Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
(có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các bản khai nguyên đơn chị Bùi Ngọc D trình bày: Chị và anh C kết hôn năm 2018 Đ ký kết hôn tại UBND xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi cưới được tìm hiểu, tự nguyện không bị ép buộc, sau khi cưới vợ chồng sống chung với bố mẹ với gia đình anh C. Trong quá trình chung sống ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Năm 2019 vợ chồng bắt đầu sảy ra mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, sống không hòa thuận thường xuyên sảy ra cãi vã gây căng thẳng cho nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 6/2019 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, hiện nay chị và con đã về bên ngoại sống ổn định. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị D và anh C có một con chung là Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 24/12/2018, hiện nay cháu đang sống cùng chị D chị đề nghị được nuôi con không yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyến Văn C: Sau khi nhận được đơn khởi kiện của chị D quá trình giải quyết vụ án tại Toà án, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Ngày 04/8/2022, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã LM, Công an xã LM, ban xóm N và gia đình anh C xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh C, hiện nay anh C vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu, các giấy triệu tập Tòa án giao gia đình nhận đã thông báo cho anh C biết.
Tuy nhiên, sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 22/8/2022 anh C đã đến Tòa án tự khai và nhất trí ly hôn theo đơn đề nghị của chị D. Về con chung đề nghị giao cho chị D có trách nhiệm nuôi con chung, nếu chị D yêu cầu anh đóng góp cấp dưỡng nuôi con đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng, Toà án thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phù hợp với các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn C bản đã chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị D, cho chị D được ly hôn anh C. Về con chung cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 24/12/2018, hiện nay đang sống cùng chị D, anh C nhất trí giao con cho chị D nuôi nên giao cho chị D có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho anh C do chị D không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn là anh Nguyễn Văn C có hộ khẩu thường trú và cư trú tại xóm Nhâu, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Bùi Ngọc D và anh Nguyễn Văn C là cuộc hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Bởi lẽ trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LM, huyện VN, tỉnh TN. Trong quá trình chung sống ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Từ năm 2019 vợ chồng bắt đầu sảy ra mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, sống không hòa thuận thường xuyên sảy ra cãi vã gây căng thẳng cho nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, đã ly thân từ tháng 6/2019 đến nay.
Ngày 20/4/2022 Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị D về việc xin ly hôn đối với C. Quá trình giải quyết vụ án anh C không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Ngày 04/8/2022, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã LM, Công an xã LM, ban xóm N và gia đình anh C xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh C, gia đình anh C đã nhận và thông báo cho anh C biết, hiện nay anh C vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển khẩu tạm vắng đi đâu.
Sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 22/8/2022 anh C đến Tòa án trình bày bản tự khai nhất trí ly hôn theo nguyện vọng của chị D, về con chung đề nghị giao cho chị D có trách nhiệm nuôi con chung, nếu chị D yêu cầu anh đóng góp cấp dưỡng nuôi con đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị D và bị đơn anh C đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị D và anh C bị sứt mẻ ngày càng căng thẳng trầm trọng, mọi quan hệ vợ chồng đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D xin được ly hôn anh C.
. Về con chung: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 24/12/2018 là con chung của chị D và anh C hiện nay sống cùng chị D, chị D có nguyện vọng được nuôi con không yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C đề nghị giao cho chị D có trách nhiệm nuôi con, nếu chị D yêu cầu anh đóng góp cấp dưỡng nuôi con đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa chị D và anh C đều vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ cần giao cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn đóng góp cấp dưỡng nuôi con đối với anh C do chị D không yêu cầu, anh C có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung.
. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh C không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Buộc chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Bởi lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Bùi Ngọc D được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2- Về con chung: Giao cho chị Bùi Ngọc D có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 24/12/2018 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn đóng góp cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Văn C.
4- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5- Về án phí: Buộc chị Bùi Ngọc D phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0004920 ngày 20 tháng 4 năm 2022.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại UBND xã.
| Nơi nhận: - VKS, THA; - UBND xã Liên Minh; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hƣơng |