- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Bé Thương - Phan Trường An"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Bé Th và anh Phan Trường A là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29/4/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Quốc Khuyên
Bà Dương Thị Tú Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé Th, sinh năm 1987;
Địa chỉ: ấp Bình Tốt B, xã Vĩnh Phú Tây, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Anh Phan Trường A , sinh năm 1988;
Địa chỉ: ấp Nội Ô, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị Th vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt; anh A vắng mặt lần thứ hai
không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/10/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thị Bé Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Trường A xây dựng hôn nhân vào năm 2016, hôn nhân là tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng không có đăng ký kết hôn và đến thời điểm hiện tại cũng chưa đi đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn được nên vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Từ lúc ly thân đến nay chị và anh A có gặp nhau hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng nhưng không thành, nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Trường A.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Phan Trường A không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phan Trường A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng anh An vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận chị Th và anh A là vợ chồng; về con chung, tài sản chung, nợ chung: do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Án phí chị Th phải nộp 300.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Chị Nguyễn Thị Bé Th yêu cầu ly hôn với anh Phan Trường A, anh A có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt và được Tòa án chấp nhận, bị đơn anh Phan Trường A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần những vắng mặt không có lý do, áp dụng Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé Th và anh Phan Trường A xây dựng hôn nhân vào năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, việc kết hôn không được đăng ký thì không có giá trị pháp lý và tại Điều 14 quy định nam nữ có đủ điều kiện kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Từ đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận chị Nguyễn Thị Bé Th và anh Phan Trường A là vợ chồng.
Về con chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết
Về tài sản chung và nợ: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp thì được giải quyết thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.
Với những phân tích trên xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Th phải nộp 300.000đ, chị Th đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ, tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004955 ngày 10 tháng 01 năm 2022 được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án. Anh Phan Trường A không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 9, Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Bé Th và anh Phan Trường A là vợ chồng.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Buộc chị Th phải nộp 300.000đ, chị Th đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ, tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004955 ngày 10 tháng 01 năm 2022 được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bạc Liêu; -VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Tạ Văn Cung |