- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H và Đỗ Văn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày 01-6-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Minh;
Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2022/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 3 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T; nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại: Phân trại 2 - Trại giam Xuân Nguyên thành phố Hải Phòng thuộc Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Bộ công an; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 01 năm 2022 và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày: Chị tự nguyện xây dựng hạnh phúc và chung sống như vợ chồng với anh Đỗ Văn T từ năm 2014 nhưng đến ngày 02 tháng 8 năm 2018 anh chị mới đến Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó anh chị chung sống cùng với gia đình bên nội tại thôn C, xã Q được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, anh T chơi bời, thiếu quan tâm đến gia đình, vợ con, sau đó vi phạm pháp luật hình sự nên phải chấp hành án phạt tù giam từ cuối năm 2019 đến nay tại Trại giam Xuân Nguyên. Thời hạn chấp hành án của anh T là 30 năm. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên đề nghị được ly hôn anh T. Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T có 01 con chung là Đỗ Minh T sinh ngày 11 tháng 12 năm 2015. Chị H nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng. Tài sản chung: Chị Phạm Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đỗ Văn T trình bày: Anh thống nhất với lời khai của chị H về điều kiện, thời gian, địa điểm kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như chị H đã trình bày. Nay chị H có đơn ly hôn, anh T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung: Anh T thống nhất với chị H trình bày về việc vợ chồng có 01 con chung, họ tên, tuổi của con như chị H đã trình bày là đúng, anh T không có ý kiến gì về việc nuôi dạy và cấp dưỡng cho con chung. Về tài sản chung: Anh T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các biên bản xác minh tại gia đình, địa phương và nơi anh Đỗ Văn T đang chấp hành án thể hiện chị H và anh T có đăng ký kết hôn, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, con chung như anh chị đã khai. Quan điểm của địa phương là giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của anh chị.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T đều vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đều đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T; về con chung: Giao con Đỗ Minh T sinh ngày 11 tháng 12 năm 2015 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh T đang chấp hành án nên đề nghị tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đỗ Văn T. Về tài sản chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chị Phạm Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh Đỗ Văn T, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T là bị đơn trong vụ án và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xxã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 02 tháng 8 năm 2018. Vì vậy quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, không có sự chia sẻ, thông cảm, yêu thương lẫn nhau, dẫn đến mâu thuẫn kéo dài, anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay và không tìm được giải pháp nào để khắc phục tình trạng mâu thuẫn đó. Anh Đỗ Văn T phải chấp hành án phạt tù, mức án là 30 năm kể từ ngày 06 tháng 12 năm 2019. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên đề nghị được ly hôn với anh T. Anh T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên đồng ý ly hôn với chị H. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn của anh chị đã ngày càng căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị H được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T có 01 con chung là Đỗ Minh T sinh ngày 11 tháng 12 năm 2015. Chị H đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Anh T không có ý kiến gì về việc nuôi dạy, cấp dưỡng cho con chung. Do vậy cần giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có cơ sở, phù hợp với những ý kiến đã được tham khảo, phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với nguyện vọng của nguyên đơn, đồng thời đảm bảo được lợi ích, tâm lý và sự phát triển về mọi mặt khác của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, hiện anh T đang chấp hành án phạt tù nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đỗ Văn T.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị H là nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T
2. Về con chung: Giao con Đỗ Minh T sinh ngày 11 tháng 12 năm 2015 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đỗ Văn T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phạm Thị H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001169 ngày 16 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBND xã Q; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyến |