- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bé S.
- Căn cứ chính? Điều 288 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/DS-ST Ngày: 04-4-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Thanh.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 04 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 294/2021/TLST–DS ngày 07 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé S, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.
- Bị đơn: 1. Ông Phan Văn M, sinh năm 1977;
2. Bà Cai Thị Th, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.
Bà S có đơn xin vắng mặt. Ông M, bà Th vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/11/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà S trình bày:
Vì chỗ quen biết và tin tưởng nên vào ngày 29/12/2019, bà cho ông M, bà Th vay số tiền 50.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K và 100 Đô la Mỹ, khi vay tiền có làm biên nhận do bà Th viết và ký tên. Ông M, bà Th hứa khi nào bà cần thì trả lại cho bà.
Tuy nhiên từ năm 2020 đến nay, bà đã nhiều lần yêu cầu ông M, bà Th trả lại tiền, vàng cho bà thì ông M, bà Th hứa bán đất xong sẽ trả, nhưng sau khi bán đất lại không trả cho bà. Bà tiếp tục yêu cầu trả thì cố tình hứa kéo dài thời gian cho đến nay. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu ông M, bà Th trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K và 100 Đô la Mỹ.
Ông M, bà Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bà S có đơn xin vắng mặt. Ông M, bà Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà S, ông M và bà Th theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét bà S yêu cầu ông M, bà Th trả số tiền 50.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K và 100 Đô la Mỹ, thấy rằng:
Tại giấy Biên nhận ngày 29/12/2019, thể hiện bà Th vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K và 100 Đô la Mỹ và bà Th có ký tên. Mặt khác, ông M, bà Th không phản đối yêu cầu khởi kiện của bà S nên theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh. Điều đó chứng minh rằng, ông M, bà Th có vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K và 100 Đô la Mỹ.
Tuy nhiên, đến hạn trả nợ mà ông M, bà Th không thực hiện là có lỗi, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với bên cho vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bé S.
Về án phí: Ông M, bà Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Lấy giá vàng, Đô la Mỹ tại thời điểm xét xử là 5.400.000 đồng/01 chỉ vàng 24K; 22.844 đồng/01 Đô la Mỹ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 288, 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bé S.
2. Buộc ông Phan Văn M và bà Cai Thị Th có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị Bé S số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), 01 chỉ vàng 24K và 100 Đô la Mỹ.
3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà S có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông M, bà Th chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
4. Về án phí: Ông Phan Văn M và bà Cai Thị Th phải chịu 3.912.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho bà Trần Thị Bé S 1.432.500 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0001483 ngày 07 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Vĩnh Đức |