vanban.org

Bản án 22/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vương Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vương Quốc Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 26/6/2021). Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Vương Quốc Đạt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 22/2021/HS-ST
Ngày 15 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thái

Bà Lò Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Ông Hà Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vương Quốc Đ (tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1986; Nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Công Q - Sinh năm: 1963 và bà Khổng Thị L - sinh năm: 1963; bị cáo có vợ Lê Thị T - sinh năm: 1980; bị cáo không có con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/9/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 05 năm tù về Mua bán trái phép chất ma túy (theo bản án hình sự sơ thẩm số 101/2013/HSST). Ngày 21/4/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Tính đến ngày 26/6/2021 bị cáo đương nhiên được xóa án tích nhưng là người có nhân thân xấu.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị H - Sinh năm 1983; Địa chỉ: Bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 45 phút ngày 26/6/2021, tại đường V thuộc tổ 02, phường N, thành phố Đ, tổ công tác Công an thành phố Đ phát hiện Vương Quốc Đ điều khiển xe máy BKS 27B2-149.98 theo hướng Bản Phủ lên trung tâm thành phố, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đưa Đ cùng phương tiện về trụ sở làm việc, mời người chứng kiến đến kiểm tra. Đ tự giác lấy từ trong cánh yếm bên phải xe máy ra 01 gói được gói bằng hai lớp nilon màu đen và màu trắng bên trong chứa 60 viên nén màu H là methamphetamine có khối lượng là 5,93 gam và lấy từ cánh yếm bên trái ra 01 túi nilon màu xanh có mép dán được cuốn ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong chứa 134 viên nén màu H là methamphetamine có khối lượng là 13,11 gam cùng 02 viên nén màu xanh không phải là chất ma túy có khối lượng 0,18 gam. Đ khai số ma túy trên Đ mua của một người đàn ông tên là Tuynh (không rõ lai lịch), đứng ở đường thuộc bản Xôm với giá 2.000.000 đồng vào khoảng 12 giờ cùng ngày, mục đích để sử dụng. Tuynh giúp Đ giấu ma túy vào trong hai cánh yếm xe. Trên đường Đ điều khiển xe về nhà tại thị trấn Mường Ảng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 750/GĐ-PC09 ngày 04/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 02 (hai) mẫu viên nén màu H ký hiệu M1, M2 gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetanime. Khối lượng vật chứng thu giữ M1: 5,93 gam, M2: 13,11gam. Methamphetanime nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu viên nén màu xanh ký hiệu M3 gửi giám định, khối lượng vật chứng thu giữ M3: 0,18gam.

Tại Bản cáo trạng số: 142/CT-VKSTPĐBP ngày 13/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vương Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 18,98 gam Methamphetanime (là vật chứng còn lại sau giám định); 0,15 gam mẫu các viên nén màu xanh; 01 mảnh nilon màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 đoạn băng dính màu đen; 01 túi nilon màu xanh loại túi có mép dán.

Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại giai đoan điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị H trình bày: Bị cáo Đ là bạn của con gái tôi tên bà Lù Thị Hiền, khoảng 11 giờ ngày 26/6/2021, tôi có cho bị cáo mượn chiếc xe máy biển kiểm soát BKS 27B2-149.98 làm phương tiện đi lại, tôi không biết bị cáo sử dụng xe vào việc tàng trữ trái phép ma túy. Chiếc xe máy do tôi (H) đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, Cơ quan công an đã trả lại bà chiếc xe, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 26/6/2021, tại khu vực tổ 02, phường Nam Thanh, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Vương Quốc Đ đã có hành vi cất giấu trái phép 19,04 gam Methamphetamine trên phương tiện do mình quản lý và điều khiển, mục đích sử dụng. Ngoài ra bị cáo còn cất giấu 02 viên nén màu xanh không phải là ma trúy có khối lượng 0,18 gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội rất lớn, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Ngày 21/9/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 05 năm tù về Mua bán trái phép chất ma túy (theo bản án hình sự sơ thẩm số 101/2013/HSST). Ngày 21/4/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Tính đến ngày 26/6/2021 bị cáo đương nhiên được xóa án tích nhưng là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên là Tuynh, bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được họ tên, địa chỉ của người này nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 18,98 gam Methamphetanime (là vật chứng còn lại sau giám định) do là vật cấm tàng trữ. 0,15 gam mẫu các viên nén màu xanh; 01 mảnh nilon màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 đoạn băng dính màu đen; 01 túi nilon màu xanh loại túi có mép dán do không có giá trị.

Đối với chiếc xe máy xe máy BKS 27B2-149.98 là tài sản của bà Lò Thị H. Bà H không biết bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe cho bà H, là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận. (Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 07/10/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra và bà Lò Thị H).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Vương Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vương Quốc Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 26/6/2021).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 18,98 gam Methamphetanime (là vật chứng còn lại sau giám định); 0,15 gam mẫu viên nén màu xanh; 01 mảnh nilon màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 đoạn băng dính màu đen; 01 túi nilon màu xanh (loại túi có mép dán).

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/10/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ