vanban.org

Bản án 22/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần L H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng pháp luật: Xử phạt: Bị cáo Trần L H 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN LY H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần L H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 22/2021/HS-ST
Ngày: 24/02/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Dương Tấn Đấu

2/ Ông Ngô Rạng Đông

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2021/TLST - HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần L H, sinh năm 1993 - giới tính: Nam;

Tại: Đ Hả,Bạc Liêu;

Nơi cư trú: Ấp C G, xã Đ T, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu;

Dân tộc: Kinh;

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ văn hóa: 6/12;

Con ông: Trần Văn T (sống) và bà: Phạm Thúy K (sống);

Anh chị em ruột: Có 03 người em ruột (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2004)

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2020

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 05 tháng 11 năm 2020 Công an huyện Phú Quốc (nay là thành phố Phú Quốc) phối hợp với Công an thị trấn An Thới (nay là phường An Thới) tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà trọ N H thuộc khu phố A, phường An Thới, thành phố Phú Quốc thì phát hiện tại phòng trọ số 01do Trần L H thuê có 10 bịch nylon màu trắng trong suốt bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng có rãnh gài được đựng trong bao thuốc lá hiệu 555 để trên gác trong phòng trọ. Tiếp tục kiểm tra thì phát hiện trong hộp kim loại trên kệ cạnh giường ngủ có 01 bịch nylon màu trắng trong suốt có rãnh gài bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, ngoài ra trong hộp nhựa trên trần nhà của H cũng có 01 bịch nylon màu trắng trong suốt có rãnh gài bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất.

Trần L H khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 05/11/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã dùng điện thoại gọi điện cho một người tên Mèo mua 10 bịch ma túy với giá 1.000.000 đồng, H và Mèo hẹn địa điểm giao dịch tại cổng công ty Bim thuộc ấp Đường Bào, xã Dương Tơ. Sau khi mua được ma túy H mang về phòng trọ đang sử dụng một ít thì bị lực lượng Công an huyện Phú Quốc (nay là thành phố Phú Quốc) bắt quả tang. Hai bịch ma túy thu giữ còn lại H mua của một người tên C Ròm tại khu phố 6, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 12 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, hình chữ nhật: kích thước 1,5cm x 0,2cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất đã được niêm phong.

- 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Sam sung số IMEI 1: 352123115524658; IMEI 2; 352124114274659 đã qua sử dụng.

* Tại bản kết luận giám định số: 935/KL-KTHS ngày 12/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 1,4984 gam và bao gói đựng mẫu niêm phong.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 935/KL-KTHS ngày 12/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKSPQ ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Trần L H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần L H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần L H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 1,4984 gam, mẫu vật còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu niêm phong.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Sam sung số IMEI 1: 352123115524658; IMEI 2; 352124114274659 đã qua sử dụng.

Đối với đối tượng tên Cường Ròm và Mèo bán ma túy cho Trần L H Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và lời nói sau cùng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 05 tháng 11 năm 2020 Công an huyện Phú Quốc (nay là thành phố Phú Quốc) phối hợp với Công an thị trấn An Thới (nay là phường An Thới) tiến hành kiểm tra hành chính Nhà trọ N H thuộc khu phố A, thị trấn An Thới (nay là phường An Thới), thì phát hiện tại phòng trọ số 01 do Trần L H Thuê có 12 bịch nylon màu trắng trong suốt bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng có rãnh gài, kích thước các bịch nylon là 1,5cm x 02cm có khối lượng khi thu giữ là 1,5519 gam, qua giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang đây là ma túy loại Methamphetamine, H thừa nhận đó là ma túy mua về để sử dụng dần.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy, cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Trần L H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật và có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, như trộm cắp, cướp giật...... Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng, bị cáo đã bất chấp pháp luật, tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là hành vi cố ý của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để răn đe, giáo dục và cũng tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ ma túy tái hòa nhập cộng đồng.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 1,4984gam và bao gói đựng mẫu niêm phong, đây là vật cấm lưu hành.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Sam sung số IMEI 1: 352123115524658; IMEI 2; 352124114274659 đã qua sử dụng.

. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, HĐXX xem xét khi lượng hình.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần L H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng pháp luật:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

3. Xử phạt: Bị cáo Trần L H 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2020.

4. Biện pháp tư pháp về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 1,4984 gam, mẫu vật còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu niêm phong.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Sam sung số IMEI 1: 352123115524658; IMEI 2; 352124114274659 đã qua sử dụng.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 09/QĐ-VKSPQ-HS ngày 27/01/2021)

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ