vanban.org

Bản án 22/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 14/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã Thạnh Xuân quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Thạnh Xuân nhận được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hoa đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HS-ST
Ngày 14-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Văn Chuộng

2. Ông Trần Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1972. Nơi cư trú: Ấp XC, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị S (Còn sống); không rõ cha là ai; bị cáo có 03 người anh, em; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Văn M, sinh năm: 1971; có 02 người con sinh năm 1994 và 2014; Tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 06 tháng 3 năm 2020 của Công an xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1973

Địa chỉ: Ấp XC, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Có mặt.

Bà Võ Hồng H, sinh năm 1983

Địa chỉ: Ấp XC, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp XC, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 20 phút ngày 17/12/2020, Công an xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã lập biên bản bắt quả tang tụ điểm đánh bạc trái phép với hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền tại nhà của bà Nguyễn Thị N ở ấp XC, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang. Những người bị bắt gồm có: Võ Hồng H, Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Thị H, Trần Thị U.

Quá trình điều tra, xác định được như sau: Vào khoảng 10 giờ ngày 17/12/2020, bị cáo Nguyễn Thị H gặp Võ Hồng H, Nguyễn Thị Mỹ H và Trần Thị U tại nhà Nguyễn Thị N. Thấy trên gác trại hòm nhà chị N không có ai trông coi nên bị cáo H cùng với H, H và U rủ nhau lên gác chơi bài tứ sắc ăn thua bằng tiền. Ai tới chơn (chẵn) thì ba người còn lại thua mỗi tụ 5.000đồng, ai tới quan thì ba tụ còn lại mỗi tụ thua 10.000đồng. Chơi được khoảng 06 ván thì bị cáo H đi rước con, 15 phút sau H trở lại, 04 người tiếp tục chơi đánh bài ăn tiền. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an xã Thạnh Xuân bắt quả tang.

Bị cáo và những người bị bắt khai nhận như sau:

1. Bị cáo Nguyễn Thị H đem theo 110.000đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi đã thua 75.000đồng, còn lại 35.000đồng trên chiếu bạc bị tạm giữ.

2. Võ Hồng H đem theo 200.000đồng dùng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi đã thua 20.000đồng, còn lại 180.000đồng bị tạm giữ trên chiếu bạc.

3. Nguyễn Thị Mỹ H đem theo 280.000đồng dùng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi thắng được 140.000đồng. Khi bị bắt, Hằng để 420.000đồng trên chiếu bạc.

4. Trần Thị U khi bị Công an phát hiện đã khai nhân thân là Trần Thị U, sinh năm 1955, thường trú ấp TQL, xã BT, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương không có ai là Trần Thị U có nhân thân như trên nên không thể tiếp tục triệu tập Trần Thị U về làm việc để làm rõ số tiền Trần Thị U dùng vào mục địch đánh bạc với H, H và H. H, H và Hg cũng không biết Trần Thị U ở đâu, làm gì và dùng bao nhiêu tiền đánh bạc.

Theo Cáo trạng số 36/CT-VKS-HCTA ngày 10 tháng 8 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Đánh bạc”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội "Đánh bạc".

Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Vật chứng trong vụ án gồm có:

- Tiền Việt Nam là 1.140.000đồng.

- 336 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng.

- 04 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vtel màu đỏ đen.

- 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng.

Đối với các vật chứng đã tạm giữ, quá trình điều tra chứng minh được như sau:

- Số tiền 1.140.000đồng thu giữ tại chiếu bạc là tiền bị cáo H và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là của bị cáo Nguyễn Thị H, không liên quan hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

- 336 lá bài, 04 bộ bài tứ sắc, 01 chiếc chiếu là các công cụ mà bị cáo dùng để đánh bạc, không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Vtel màu đỏ đen khi tạm giữ là của Trần Thị U nhưng đến nay chưa làm rõ được nhân thân, địa chỉ của Trần Thị U, không biết Trần Thị U đang ở đâu nên đề nghị Hội đồng xét xử giao lại cho cơ quan cảnh sát điều tra làm rõ xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A, việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Nguyễn Thị N, Võ Hồng H vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 xét xử vắng mặt đối với bà N và bà H.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, chứng minh được như sau:

Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 17/12/2020, tại ấp Xẻo Cao, xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, những đối tượng sau đây đã tham gia đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, khi đang chơi thì bị Công an xã Thạnh Xuân bắt quả tang, cụ thể như sau:

1. Bị cáo Nguyễn Thị H đem theo 110.000đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi đã thua 75.000đồng, còn lại 35.000đồng trên chiếu bạc bị tạm giữ.

2. Võ Hồng H đem theo 200.000đồng dùng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi đã thua 20.000đồng, còn lại 180.000đồng bị tạm giữ trên chiếu bạc.

3. Nguyễn Thị Mỹ H đem theo 280.000đồng dùng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi thắng được 140.000đồng. Khi bị bắt, Hằng để 420.000đồng trên chiếu bạc.

4. Trần Thị U chưa xác định được số tiền đối tượng Út dùng vào mục đích đánh bạc.

Số tiền mà bị cáo Hvà các đối tượng nêu trên dùng vào mục đích đánh bạc theo lời thừa nhận của bị cáo và các đối tượng là 590.000đồng, tuy nhiên khi bị bắt quả tang tiền thực tế trên chiếu bạc là 1.140.000đồng.

Bị cáo H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, cùng với các đối tượng khác đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.140.000đồng, chưa đủ 5.000.000đồng, tuy nhiên bị cáo Nguyễn Thị H đã có một tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa hết thời gian được xem là chưa bị xử phạt lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 củ Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xác định mức hình phạt phù hợp, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục. Tuy nhiên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với các đối tượng Nguyễn Thị Mỹ H, Võ Hồng H lần đầu tiên tham gia đánh bạc bị bắt, số tiền dùng vào mục đích đánh bạc chưa đủ định lượng để khởi tố, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và H là phù hợp. Đối với Nguyễn Thị N không biết việc bị cáo H và các đối tượng vào nhà N đánh bài ăn thua bằng tiền nên không đặt ra xem xét xử lý. Đối với đối tượng khai tên là Trần Thị U nhưng khi xác minh không tìm thấy người có nhân thân như U khai nhận tại địa phương nên không làm rõ được số tiền mà người này dùng vào mục đích đánh bạc cũng như không làm rõ được nhân thân, lai lịch thật của người này nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Số tiền 1.140.000đồng thu giữ tại chiếu bạc là tiền bị cáo H và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là của bị cáo Nguyễn Thị H, không liên quan hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- 336 lá bài, 04 bộ bài tứ sắc, 01 chiếc chiếu là các công cụ mà bị cáo dùng để đánh bạc, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Vtel màu đỏ đen khi tạm giữ là của Trần Thị U nhưng đến nay chưa làm rõ được nhân thân thật sự của Trần Thị Út, không biết Trần Thị U đang ở đâu nên giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã Thạnh Xuân quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Thạnh Xuân nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án này.

Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.140.000đồng (Một triệu một trăm bốn mươi ngàn đồng)

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

Tịch thu tiêu hủy 336 (ba trăm ba mươi sáu) lá bài đã qua sử dụng, 04 (bốn) bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng, 01 (một) chiếc chiếu đã qua sử dụng.

Giao 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vtel màu đỏ đen cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang làm rõ xử lý sau.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Mỹ H có quyền kháng cáo bản án đối với phần nội dung liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Võ Hồng H, Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ