- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2021/HS-ST Ngày 15- 4- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hứa Văn Trung
Bà Hoàng Thị Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Đức Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2021/TLST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Hoàng Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 22 tháng 01 năm 1985, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Khu T, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; trình độ văn hoá: 10/12; con ông Hoàng Văn K (đã chết) và bà Âu Thị L; vợ: Lộc Thị B và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/01/2021 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Ly Mí C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện M, tỉnh Hà Giang. Hiện đang tạm trú tại: Khu T, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lương T, sinh năm 1968; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 19/01/2021, Tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại Khu T, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn H có hành vi ghi số lô, đề tại quán tạp hóa của gia đình cho Ly Mí C. Tổ công tác đã đưa các đối tượng về trụ sở lập biên bản sự việc để điều tra làm rõ.
Qua kiểm tra nội dung ghi trong tờ cáp lô, đề thu giữ của Hoàng Văn H xác định số tiền Hoàng Văn H đánh bạc như sau:
Hoàng Văn H ghi số đề cho khách được 1.770 điểm tương ứng với số tiền là 1.770.000 đồng; số lô 128 điểm lô tương ứng số tiền là 2.944.000 đồng, số xiên 64 điểm tương ứng 640.000 đồng. Tổng cộng số tiền đánh bạc của Hoàng Văn H là 5.354.000 đồng (năm triệu ba trăm năm mươi tư nghìn đồng).
Trong tổng số tiền 5.354.000 đồng bị cáo Hoàng Văn H ghi số đề trong đó có 100.000 đồng là của Ly Mí C, số tiền còn lại 5.254.000 đồng không xác định được họ tên, địa chỉ của người ghi lô, đề.
Do hành vi đánh bạc bị ngăn chặn trước giờ mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 19/01/2021, nên không tiến hành đối chiếu số trúng thưởng.
Vật chứng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn H: 01 (một) tờ giấy ghi số lô, đề ngày 19/01/2021 (là tài liệu, chứng cứ của vụ án đã được lưu theo hồ sơ vụ án); 10 (mười) tờ giấy cáp được cắt từ vỏ bao thuốc lá (cáp trắng); 01 (một) bút bi; số tiền 3.218.000 đồng; thu của Ly Mí C 100.000 đồng.
Còn số tiền ghi lô đề 2.036.000 đồng (trong tổng số tiền 5.354.000 đồng) Hoàng Văn H ghi số đề ngày 19/01/2021 Hoàng Văn H đã dùng vào việc mua hàng hóa về bán.
Bản kết luận giám định số: 113/KLGĐ- PC09 ngày 30/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 3.318.000đ (ba triệu ba trăm mười tám nghìn đồng) trong 02 (hai) gói niêm phong gửi giám định đều là tiền Việt Nam thật.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Văn H khai nhận: Hoàng Văn H mở bán hàng tạp hóa tại nhà ở Khu T, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình bán hàng, có một người phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ đến đặt vấn đề với Hoàng Văn H làm thư ký ghi lô, đề để hưởng chênh lệch. Hoàng Văn H đồng ý và bắt đầu ghi đề từ khoảng đầu tháng 01/2021. Hoàng Văn H nhận ghi cho khách với giá 01 điểm đề, xiên, ba số là 1.000 đồng/điểm; 01 điểm lô là 23.000 đồng/điểm. Hằng ngày, sẽ có người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến nhận cáp. Người này và Hoàng Văn H thỏa thuận, chuyển 01 điểm đề, ba số với giá 720 đồng/điểm, Hoàng Văn H được hưởng 280 đồng/điểm; số lô với giá 21.700 đồng/điểm, Hoàng Văn H được hưởng 1.300 đồng/điểm; số xiên với giá 7.300 đồng, Hoàng Văn H được hưởng 2.700 đồng. Cuối ngày, người phụ nữ sẽ đến nhà riêng của Hoàng Văn H thu cáp lô, đề và đưa tiền cho bị cáo để bị cáo trả tiền cho những người trúng lô, đề hôm trước. Ngày 19/01/2021, khi bị cáo đang ghi lô đề cho Ly Mí C thì bị phát hiện. Khi bị phát hiện chủ đề chưa đến thu tiền và cáp đề và cũng chưa đến giờ mở thưởng. Số tiền bị cáo ghi lô đề ngày ngày 19/01/2021 là 5.354.000 đồng (năm triệu ba trăm năm mươi tư nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 25/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn H về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội đánh bạc. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hoàng Văn H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hoàng Văn H và bị cáo không phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 10 (mười) tờ giấy cáp được cắt từ vỏ bao thuốc lá (cáp trắng); 01 (một) bút bi. Đây là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng thu, giữ của bị cáo Hoàng Văn H.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.218.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn H và 100.000 đồng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C vì đây là số tiền bị cáo Hoàng Văn H thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có và số tiền Ly Mí C bỏ ra ghi số lô, đề.
Đề nghị Hội đồng xét xử truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.036.000 đồng (trong tổng số tiền 5.354.000 đồng) bị cáo Hoàng Văn H ghi số đề ngày 19/01/2021, số tiền này bị cáo Hoàng Văn Hôn đã dùng vào việc mua hàng hóa về để bán.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của bản thân, xin Hội đồng xét xử khoan hồng, xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản sự việc, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Ngày 19/01/2021, bị cáo Hoàng Văn H đã ghi số đề cho khách được 1.770 điểm tương ứng với số tiền là 1.770.000 đồng; số lô 128 điểm lô tương ứng số tiền là 2.944.000 đồng, số xiên 64 điểm tương ứng 640.000 đồng. Tổng cộng số tiền đánh bạc của Hoàng Văn H là 5.354.000 đồng (năm triệu ba trăm năm mươi tư nghìn đồng). Trong tổng số tiền 5.354.000 đồng bị cáo Hoàng Văn H ghi số đề có 100.000 đồng là của Ly Mí C, số tiền còn lại không xác định được họ tên, địa chỉ của người ghi lô, đề. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Với hành vi trên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người khác, gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân mà còn góp phần làm gia tăng các tội phạm khác trong xã hội. Để có hình phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, cụ thể như sau:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Nhận thấy, bị cáo Hoàng Văn H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật. Trên cở sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam nên không phải trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; bị cáo có thu nhập thấp không ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo và bị cáo cũng không phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ vì bị cáo còn phải lao động nuôi sống bản thân và gia đình.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo tài liệu, chứng cứ (biên bản xác minh tài sản có trong hồ sơ vụ án) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có tài sản gì có giá trị, thu nhập thấp không ổn định, vợ chồng sống chung với mẹ đẻ. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy: Đối với 10 (mười) tờ giấy cáp được cắt từ vỏ bao thuốc lá (cáp trắng); 01 (một) bút bi là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 3.218.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn H. Đây là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C. Đây là số tiền Ly Mí C bỏ ra ghi lô, đề có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 2.036.000 đồng (trong tổng số tiền 5.354.000 đồng) của bị cáo Hoàng Văn H mà bị cáo ghi số đề ngày 19/01/2021, số tiền này bị cáo Hoàng Văn H đã dùng vào việc mua hàng hóa về để bán cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với người phụ nữ nhận số lô, đề hàng ngày và những khách ghi đề trước đây, bị cáo không có mối quan hệ gì và không rõ tên, tuổi, địa chỉ về những người này nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Đối với Ly Mí C đã tham gia đánh bạc (dưới hình thức ghi lô, đề), số tiền Ly Mí C sử dụng đánh bạc với bị cáo là 100.000 đồng. Qua tra cứu thì đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, do vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự Ly Mí C. Ngày 09/3/2021, Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ly Mí C.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về mức hình phạt của bị cáo Hoàng Văn H là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật về xử lý với hành vi trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị kết án. Do đó, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 135, Điều 292, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội đánh bạc.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Hoàng Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hoàng Văn H và bị cáo không phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 10 (mười) tờ giấy cáp được cắt từ vỏ bao thuốc lá (cáp trắng), 01 (một) bút bi.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.218.000 đồng (ba triệu hai trăm mười tám nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Văn H được đựng trong phong bì niêm phong.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ly Mí C được đựng trong phong bì niêm phong.
(Các vật chứng được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Hoàng Văn H số tiền 2.036.000 đồng (hai triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
4. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận : - Bị cáo (1b), - Người có QL,NVLQ (1b); - VKSND tỉnh Lạng Sơn (1b); - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (1b); - CQ ĐTCA huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (1b); - Nhà TG Công an Huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (1b); - TAND tỉnh Lạng Sơn (1b); - STP tỉnh Lạng Sơn (1b); - CCTHA dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (1b); - Bộ phận thi hành án hình sự (1b); - Lưu (văn phòng; hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Thị Hà |