vanban.org

Bản án 22/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 06/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 11/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS-ST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HS-ST
Ngày: 06-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Hữu Tường

Ông Hoàng Minh Thọ

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2021/HSST ngày 17/3/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 23/3/2021 đối với:

* Bị cáo: Trần Văn T, sinh ngày: 16/02/1994, tại xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1968, con bà Trần Thị L, sinh năm 1969; Vợ: Lê Thị H, sinh năm 1996; Đều trú tại: Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

Tiền án: Ngày 24/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2018/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2019 và án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/8/2018, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2020, đến ngày 14/12/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 55 phút, ngày 11/12/2020 trên đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện và bắt quả tang Trần Văn T đang cầm trên tay 01 gói ni lông, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Trần Văn T khai nhận đây là ma túy đá mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở thành phố Hà Tĩnh cho một một người đàn ông tự xưng là Tuấn A ở xã Cẩm D, huyện Cẩm X về để cùng sử dụng.

Quá trình điều tra xác định: Trần Văn T là đối tượng sử dụng chất ma túy. Khoảng 14 giờ 28 phút ngày 11/12/2020, T nhận được cuộc gọi từ số thuê bao 0369.021.903 của một người tự xưng là Tuấn A ở xã Cẩm D, huyện Cẩm X đã từng đi chơi trong hội bạn cùng T, nhờ T mua 200.000đồng ma túy để về cùng sử dụng, T đồng ý và hẹn khi nào mua được ma túy sẽ gọi điện thoại lại. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T bắt xe bus đi ra thành phố Hà Tĩnh tìm người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) thường đứng ở khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh (trước đây T đã mua ma túy của người này) hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Sau khi đưa tiền, người đàn ông đó đưa lại cho T 01 gói ma túy đá, T cầm rồi bắt xe bus đi về xã Cẩm V, huyện Cẩm X. Đến 18 giờ 43 phút cùng ngày, T xuống xe trước khu vực cây xăng Cẩm V và gọi cho người tự xưng là Tuấn A hẹn đến đây lấy ma túy.

Vào hồi 21 giờ 15 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Trần Văn T nhưng không thu giữ được T liệu, đồ vật nào khác liên quan đến ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 210/GĐMT-PC09 ngày 14/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (1,7x1,8)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1554gam, là Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh Mục II.C,STT 323, Nghị định số 73, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Xuyên đã trưng cầu xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trần Văn T. Tại Phiếu trả lời kết quả số 778 ngày 12/12/2020 của Trung tâm chữa bệnh, giáo dục - Lao động thuộc Sở lao động thương binh và xã hội Hà Tĩnh xác định Trần Văn T dương tính với chất ma túy đá (Methamphetamine).

* Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ:

- 01 gói ni lông có khối lượng 0,1554gam, là ma túy Methamphetamine, sau khi đã trừ mẫu giám định còn lại 0,1377gam. Số ma túy sau khi trừ mẫu giám định đã được cho vào 01 phong bì thư niêm phong theo quy định, thu của Trần Văn T.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 vỏ màu trắng, bên trong gắn sim số 0912.000.683, đã qua sử dụng, thu của Trần Văn T.

Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSCX ngày 16/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy, 01 sim điện thoại thu của bị cáo; Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại thu của bị cáo. Ngoài ra, còn buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các T liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Vào hồi 18 giờ 55 phút ngày 11/12/2020, tại khu vực đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện bắt quả tang Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ 0,1554 gam Methamphetamine. T khai nhận số ma túy này là mua hộ cho một người đàn ông tự xưng Tuấn A ở xã Cẩm D để về cùng sử dụng, từ một người đàn ông ở thành phố Hà Tĩnh không rõ nhân thân, lai lịch với giá 200.000 đồng.

Hành vi trên của Trần Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc tuy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước; ma túy là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng chất ma túy làm hủy hoại sức khỏe, suy kiệt kinh tế và còn là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy, sự nghiêm cấm của Nhà nước nhưng đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy đã thu giữ, 01 sim điện thoại thu của bị cáo; Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động thu của bị cáo.

Đối với người đàn ông ở thành phố Hà Tĩnh, Trần Văn T khai là người đã bán ma túy cho T. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đàn ông tên Tuấn Anh, Trần Văn T khai đã nhờ T mua ma túy. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã tiến hành xác minh, nhưng do bị cáo cung cấp không đầy đủ thông tin, nên không xác định được; đồng thời đã ra Lệnh thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0369.021.903 để xác định chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Vì vậy, việc cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 11/12/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 vỏ màu trắng, số IMEI 359302060647176, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu của Trần Văn T.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì thư đã niêm phong, bên trong phong bì có chứa 0,1377 gam (Không phẩy một ba bảy bảy gam) chất tinh thể màu trắng là ma túy sau khi đã lấy mẫu giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói.

+ 01 (Một) sim số 0912.000.683, thu của Trần Văn T.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên).

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ