vanban.org

Bản án 22/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H đƣợc ly hôn với ông Lê Văn L (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/KH, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện D, tỉnh B cấp ngày 17/11/2006).

Về con chung: Bà Trần Thị Thu H và ông Lê Văn L có 01 con chung là cháu Lê Phi H, sinh ngày 24/8/1997. Cháu Lê Phi H đã trƣởng thành, bà Trần Thị Thu H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị Thu H không yêu cầu nên không xem xét, giải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H đƣợc ly hôn với ông Lê Văn L (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/KH, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện D, tỉnh B cấp ngày 17/11/2006).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:22/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Văn Nhung;

Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ L số: 830/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1972; thƣờng trú: Số 42 (số cũ 24/11), đƣờng Xa lộ Hà Nội, khu phố H, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1968; thƣờng trú: Số 42 (số cũ 24/11), đƣờng Xa lộ Hà Nội, khu phố H, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, bà Trần Thị Thu H và ông Lê Văn L tự nguyện tiến đến hôn nhân, sau đó một thời gian mới đi đăng ký kết hôn. Việc kết hôn của bà H và ông L là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận.

Sau khi kết hôn, bà H và ông L cùng sống tại nhà của hai vợ chồng ở phƣờng B, thành phố D, tỉnh B. Vợ cH sống hạnh phúc với nhau đƣợc một thời gian dài cho đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông L thƣờng xuyên ghen tuông vô cớ rồi dùng những lời lẽ xúc phạm bà, sự việc cứ lập đi lập lại dẫn đến bà không thể tiếp tục chịu đựng đƣợc. Nhận thấy, tình cảm vợ cH không còn nên bà Trần Thị Thu H yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Lê Văn L. Từ khi nộp đơn khởi kiện bà H đã dọn ra ngoài ở riêng.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Trần Thị Thu H và ông Lê Văn L có với nhau 01 con chung là cháu Lê Phi Hùng, sinh ngày 24/8/1997. Hiện con chung đã trƣởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Văn L: Sau khi Tòa án thụ L vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ L vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, yêu cầu ông L có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H nhƣng ông L không có ý kiến, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông L tham gia hòa giải vào ngày 15/12/2020 và ngày 04/01/2021 nhƣng ông L vắng mặt không có L do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông L tham gia phiên tòa vào ngày 03/02/2021 và ngày 26/02/2021 nhƣng ông L vẫn vắng mặt không có L do. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 03/02/2021 và ngày 26/02/2021 nhƣng vắng mặt không có L do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Thu H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Lê Văn L đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 03/02/2021 và ngày 26/02/2021 nhƣng đều vắng mặt không có L do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H và ông Lê Văn L là vợ cH, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thắng, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 17/11/2006 theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/KH, quyển số 01/2006 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, bà H xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cụ thể là do ông L thƣờng xuyên ghen tuông vô cớ rồi dùng những lời lẽ xúc phạm bà, sự việc cứ lập đi lập lại dẫn đến bà không thể tiếp tục chịu đựng đƣợc, hiện nay ông, bà đang ly thân. Quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập ông L đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H và cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án nhƣng ông L không đến. Điều này chứng tỏ bản thân ông L cũng không muốn vợ cH có cơ hội để đoàn tụ với nhau, còn bà H xác định không còn tình cảm với ông L, hiện ông bà đang ly thân. Nhƣ vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Trần Thị Thu H và ông Lê Văn L có 01 con chung là cháu Lê Phi H, sinh ngày 24/8/1997. Hiện cháu Hùng đã trƣởng thành, bà H không yêu cầu giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị Thu H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H đƣợc ly hôn với ông Lê Văn L (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/KH, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện D, tỉnh B cấp ngày 17/11/2006).

2. Về con chung: Bà Trần Thị Thu H và ông Lê Văn L có 01 con chung là cháu Lê Phi H, sinh ngày 24/8/1997. Cháu Lê Phi H đã trƣởng thành, bà Trần Thị Thu H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị Thu H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0048700 ngày 13/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ