vanban.org

Bản án 22/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T đối với bị đơn chị Nguyễn Thị O. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị O. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T - 2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 11.3.2021
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền

- Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảo

2. Ông Kiều Văn Cách

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2020/TLST-HNGĐ ngày 03.11.2020 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29.01.2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T

sinh năm 1978

Trú tại: khu vực X, phường Y, quận Z, thành phố Cần Thơ

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O

sinh năm 1980

Trú tại: khu vực X, phường Y, quận Z, thành phố Cần Thơ

3. Người có quyền, lợi ích được bảo vệ - con chung:

Cháu Nguyễn Phi H

sinh ngày 19.5.2009

(đang sống với anh T tại khu vực X, phường Y, quận Z; và do anh T là người giám hộ).

(nguyên/bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 03.7.2020 và quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Do tự nguyện quen biết tìm hiểu và yêu thương nhau nên anh với chị Nguyễn Thị O được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân dân xã Y, huyện Z nay là phường Y, quận Z năm 2004. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung gia đình chồng đến khi ly thân.

1

Do vợ chồng thường hay cải vả, không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra mâu thuẫn nên từ năm 2018 vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm Nguyễn Kim T1 sinh ngày 30.6.2001 và Nguyễn Phi H sinh ngày 19.5.2009. Hiện cháu T1 đã trưởng thành, lao động bình thường, còn cháu H đang sống chung với anh T; Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên anh T yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Thị O; Yêu cầu được quyền nuôi cháu H đến trưởng thành, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

* Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị O: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý số: 315/2020/TB.TLVA ngày 03.11.2020; Thông báo về việc mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 300/2020/TB.TA ngày 03.11.2020; số 350/2020/TB.TA ngày 27.11.2020 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021 ngày 29.01.2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18.02.2021 nhưng chị O vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng là đúng trình tự thủ tục luật định.

- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T đối với bị đơn chị Nguyễn Thị O; Về con chung: ổn định cho anh T được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Phi H đến trưởng thành, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của đương sự về việc trình bày không có tài sản chung, nợ chung, sau này có phát sinh tranh chấp tài sản chung và nợ chung thì được giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về án phí sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Văn T với chị Nguyễn Thị O được gia đình hai bên tác hợp và tự nguyện tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Z nay là phường Y, quận Z nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên anh T có đơn khởi kiện. Xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị O đã được Tòa án tống đạt công khai các văn bản tố tụng để triệu tập tham gia phiên tòa nhưng chị O vẫn vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử có căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, 3 điều 228, điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét về quan hệ hôn nhân: Anh T, chị O chung sống từ năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo anh T thì do tính tình vợ chồng không hòa hợp, hay cải vả nên từ đầu năm 2018 anh chị quyết định sống ly thân nhau từ đó đến nay.

Quá trình giải quyết vụ kiện, anh T kiên quyết ly hôn; chị O đã được triệu tập hợp lệ để tham gia giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không thể hiện mong muốn hàn gắn lại quan hệ vợ chồng; Mặt khác, từ khi ly thân đến nay vợ chồng đã bỏ mặc mà không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Điều này cho thấy, tình trạng vợ chồng giữa anh T với chị O đã thật sự rạn nứt, thực tế hôn nhân đã chấm dứt, đời sống chung không thể tồn tại kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Anh T khai vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Kim T1 sinh ngày 30.6.2001 và Nguyễn Phi H sinh ngày 19.5.2009 - đang sống chung với anh T. Ngoài ra vợ chồng không có con nuôi hay con riêng nào khác. Điều này phù hợp với Giấy khai sinh của các cháu nên có căn cứ xác định cháu T1 và cháu H là con chung của anh T - chị O là sự thật.

Theo đó, anh T yêu cầu được quyền nuôi cháu H đến trưởng thành, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay cháu H đang sống với anh T nên cần thiết ổn định quyền nuôi con cho anh T như hiện trạng thực tế là phù hợp yêu cầu của đương sự theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Hơn nữa, điều này không làm thay đổi môi trường sống và sự phát triển bình thường của con chung.

Về vấn đề cấp dưỡng: Ghi nhận ý kiến của anh T không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung là thiêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung; không ai được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Ngoài ra, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của đương sự về việc trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điều 147, điều 220 và điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 8, khoản 1 điều 9, điều 51, điều 53, điều 56, điều 81, điều 84 và điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T đối với bị đơn chị Nguyễn Thị O.

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị O.

2. Về con chung:

./ Anh Nguyễn Văn T được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Phi H sinh ngày 19.5.2009 đến trưởng thành. Chị O không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị O có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở chị O thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

./ Đối với con chung tên Nguyễn Kim T1 sinh ngày 30.6.2001 - đã trưởng thành, lao động bình thường nên đương sự không yêu cầu giải quyết. Do đó, Tòa án không đề cập giải quyết vấn đề nuôi con và cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của đương sự về việc trình bày không có tài sản chung, nợ chung. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp tài sản chung và nợ chung thì được giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng. Tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh T đã nộp theo phiếu thu số: AA/2019/012482 ngày 15.10.2020 được chuyển thành án phí. Anh T đã nộp xong.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án tại địa phương, nguyên đơn/bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ