vanban.org

Bản án 22/2021/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/12/2021 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Sen.

Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2021/HNGĐ-ST, ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Sen phải nộp 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền bà Sen nộp tạm ứng theo Biên lai thu số AA/2016/0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp chia tài sản sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Sen.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HNGĐ-PT
Ngày: 06-12-2021
V/v tranh chấp chia tài sản chung sau
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Đặng Văn Chum;

Các Thẩm phán:

Bà Lưu Thị Mỹ Hương;

Ông Trần Văn Luông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 01 và 06 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân, gia đình thụ lý số 20/2021/TLPT-HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2021 về việc “tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2021/HNGĐ-ST, ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2021/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế Anh, sinh năm 1980; hộ khẩu thường trú: Số 16/22, đường Phan Đình Giót, khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số 40 đường T, Trung tâm hành chính Dĩ An, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp phápcủa nguyên đơn ông Nguyễn Thế Anh: Anh Võ Tấn Trí, sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ liên lạc: Số 40 đường T, Trung tâm hành chính thành phố Dĩ An, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (Hợp đồng ủy quyền ngày 05/01/2021). Có mặt;

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Sen, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 16/22, đường Phan Đình Giót, khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Đường GS 7, số 26 đường Võ Thị Sáu, khu phố Tây B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Sen là bà Phạm Thị Hải Dương, sinh năm 1991 và bà Lê Thị Hoa, sinh năm 1996; địa chỉ: Ngã ba cây Điệp, khu phố Đông Tân, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 21/5/2021). Có mặt;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu; địa chỉ: Số 11 đường DT745, khu phố Chợ, phường Lái Thiêu, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Bình An, chức vụ: Giám đốc tín dụng Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu, là người đại diện theo ủy quyền. (Theo văn bản ủy quyền ngày 14/4/2021). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/12/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Nguyễn Thế Anh là anh Võ Tấn Trí trình bày:

Ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen là vợ chồng nhưng do quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã ly hôn theo quyết định của Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 55/2020/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Tại bản án nói trên thì ông Anh và bà Sen chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung còn tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay, vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, ông Nguyễn Thế Anh yêu cầu Tòa án chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:

Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập được khối tài sản gồm:

+ Quyền sử dụng đất có diện tích 67,3m2, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL997696, số vào sổ CS14946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/7/2018 cho ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen cùng đứng tên. Đất có nguồn gốc chuyển nhượng của ông Nguyễn Trọng Tuấn. Trên đất có tài sản theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án thực hiện vào ngày 03/3/2021 gồm có: 01 Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng do ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen xây dựng trước năm 2018, có kết cấu: Nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước, mái tôn, cột gạch + cột bê tông cốt thép, trần thạch cao, cửa sắt kính + cửa sắt, diện tích 48.7m2; 01 gác gỗ diện tích 5m x 4m = 20m2; phía trước có 01 nhà tạm có kết cấu như sau: Nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước, cột gạch + sắt, phía trên có khung sắt, cửa sắt, diện tích 10,8m2; phía sau có 01 mái che có kết cấu như sau: Nền gạch tàu + gạch men, diện tích 1,1m x 4m = 4,4m2; 01 đồng hồ nước; 01 điện kế chính. Nhà đất tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Tài sản này do ông Anh quản lý, sử dụng từ thời điểm vợ chồng sống ly thân cho đến nay.

+ Quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 70m2, gắn liền với đất là căn nhà có kết cấu 1 trệt, 1 lầu, nhà và đất tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Nguồn gốc là do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Duy vào năm 2008, hiện nay toàn bộ giấy tờ liên quan do bà Nguyễn Thị Sen giữ. Tài sản này hiện do bà Sen quản lý, sử dụng.

Về nghĩa vụ chung: Ngày 13/6/2018, ông Anh và bà Sen có ký hợp đồng tín dụng số 5805/2018/PLT/HĐTD với Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu để vay số tiền 890.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng. Mục đích vay để thanh toán tiền mua thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Thực hiện hợp đồng vay trên, ông Anh và bà Sen đã thanh toán được 185.400.000 đồng, còn nợ lại 704.600.000 đồng tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh. Từ ngày 01/01/2019 đến nay vợ chồng sống ly thân, ông Anh tự thanh toán khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng với tổng số tiền bao gồm và lãi tổng cộng là 126.380.148 đồng.

Ông Nguyễn Thế Anh yêu cầu Tòa án giải quyết được nhận tài sản là Quyền sử dụng đất có diện tích 67,3m2, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ CS14946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, nhà đất tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Ông Anh nhận trách nhiệm hoàn trả giá trị bà Sen được hưởng.

Đối với Quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 70m2, gắn liền với đất là căn nhà có kết cấu 1 trệt, 1 lầu, nhà và đất tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương hiện do bà Sen đang quản lý sử dụng và do chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông Anh không tranh chấp.

Về nợ chung: Ông Anh yêu cầu chia đôi dư nợ còn lại theo xác nhận của Ngân hàng tính đến ngày 06/5/2021 là 637.856.000 đồng tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh. Ngoài ra, bà Sen còn có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Anh 50% số tiền mà ông Anh đã đóng thay cho bà Sen trong thời kỳ vợ chồng sống ly thân đến nay, tương đương số tiền là 63.190.000 đồng.

Lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Sen trình bày:

Bà Sen và ông Nguyễn Thế Anh tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm Lạc, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình chung sống, vợ chồng do phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên bà và ông Anh đã ly hôn vào ngày 17/7/2020. Khi ly hôn thì bà và ông Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay, bà và ông Anh không thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà Sen cũng xác định tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng như ông Anh xác định.

Về nghĩa vụ chung: Bà Sen thừa nhận quá trình sống chung vợ chồng có ký Hợp đồng tín dụng số 5805/2018/PLT/HĐTD ngày 13/6/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 5805/2018/PLT/HĐTD/SCBS-01 ngày 24/7/2018 với Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu để vay số tiền 890.000.000 đồng. Mục đích vay là để thanh toán tiền mua thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02. Khi vay vợ chồng bà có thế chấp chính tài sản trên để đảm bảo việc trả nợ. Về diễn biến trả nợ thì thống nhất như ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Anh về việc phân chia tài sản chung và nợ chung thì bà Sen có ý kiến như sau:

Bà Sen yêu cầu được nhận phần nhà đất có diện tích 67,3m2, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Mặc dù ông Anh không tranh chấp nhưng bà Sen đồng ý giao căn nhà gắn liền diện tích khoảng 70m2, tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho ông Anh quản lý, sử dụng.

Đối với khoản nợ chung thì bà chỉ đồng ý thanh toán khoản tiền 200.000.000 đồng trong tổng dư nợ còn lại còn ông Anh phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng vì thực tế khoản vay trên ông bà chỉ dùng một ít để trả tiền mua đất, phần còn lại ông Anh sử dụng để kinh doanh quán cà phê, lợi nhuận do ông Anh giữ nên ông Anh phải chịu trách nhiệm.

Lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ngày 06/5/2021, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu là anh Trần Bình An trình bày:

Ngày 13/6/2018, ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen có ký hợp đồng số 5805/2018/PLT/HĐTD với Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu để vay số tiền 890.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng. Mục đích vay để thanh toán tiền chuyển nhượng thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Đồng thời, vợ chồng ông Anh, bà Sen đã thế chấp chính tài sản này để đảm bảo cho khoản vay trên. Tính đến ngày 06/5/2021, ông Anh và bà Sen còn nợ Ngân hàng số tiền 637.856.000 đồng. Hiện nay, ông Anh, bà Sen vẫn thực hiện việc trả nợ theo đúng tiến độ, không vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp ông Anh và bà Sen có vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng sẽ tự khởi kiện thành một vụ kiện khác. Ngân hàng không có yêu cầu độc lập đối với vụ án này.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá thể hiện: Quyền sử dụng đất hiện các đương sự xác định tranh chấp có diện tích đất theo đo đạc thực tế là 67,3m2(gồm 59,8m2 đất ODT và 7,5m2 đất BHK). Giá trị đất ODT: 25.000.000 đồng/m2; giá trị đất BHK 23.000.000đồng/m2. Tổng giá trị quyền sử dụng đất: 1.667.500.000 đồng. Trên đất có tài sản do ông Anh, bà Sen xây dựng: 01 Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng diện tích 48,7m2, giá trị 168.696.800 đồng + gác gỗ diện tích 20m2, giá trị 7.680.000 đồng; 01 nhà tạm diện tích 10.8m2, giá trị 10.627.200 đồng; 01 mái che diện tích 4.4m2, giá trị 2.016.960 đồng; 01 đồng hồ nước có giá 234.000 đồng/cái; 01 đồng hồ điện kế chính có giá 1.755.000 đồng/cái. Tổng giá trị tài sản trên đất: 191.009.960 đồng. Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 1.858.509.960 đồng.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2021/HNGĐ-ST, ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thế Anh về việc yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị Sen.

2. Buộc bà Nguyễn Thị Sen giao cho ông Nguyễn Thế Anh quản lý, sử dụng 01 nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng diện tích 48,7m2 gác gỗ diện tích 20m2; 01 nhà tạm diện tích 10.8m2; 01 mái che diện tích 4.4m2; 01 đồng hồ nước ; 01 đồng hồ điện kế chính, gắn liền thửa đất 8090, tờ bản đồ số 02, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 997696, số vào sổ cấp GCN: CS14946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/07/2018, nhà đất tọa lạc tại 16/22 Phan Đình Giót, khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Ông Nguyễn Thế Anh có trách nhiệm liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 997696, số vào sổ cấp GCN: CS14946 từ sở hữu chung của ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen sang sở hữu riêng của ông Nguyễn Thế Anh theo quy định của Luật đất đai.

3. Buộc ông Nguyễn Thế Anh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Bình Dương – Phòng giao dịch Lái Thiêu theo Hợp đồng tín dụng số 5805/2018/PLT/HĐTD ngày 13/06/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 5805/2018/PLT/HĐTD/SĐBS-01 ngày 24/07/2018.

4. Buộc ông Nguyễn Thế Anh có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Sen số tiền 547.136.980 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/5/2021 bị đơn bà Nguyễn Thị Sen nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Sen là bà Lê Thị Hoa trình bày: Hiện nay bà Sen không có nhà để ở, bản thân ông Anh quản lý căn nhà nhưng ông Anh không sử dụng mà cho người khác thuê. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Sen, giao phần đất có diện tích diện tích 67,3m2, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 cho bà Sen trực tiếp quản lý. Bà Sen bồi hoàn cho ông Anh 1/2 giá trị tài sản.

Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngoài phần đất và nhà tranh chấp ông Anh không có chỗ ở nào khác, ông Anh mong muốn được nhận bằng hiện vật để chăm lo cho con chung. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Phần đất tranh chấp có diện tích 67,3m2, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 là tài sản chung của vợ chồng ông Anh và bà Sen. Trên thực tế ông Anh và bà Sen đều thừa nhận mỗi người đang quản lý 1 căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất riêng. Do vậy, Tòa án án cấp sơ thẩm quyết định giao tài sản gắn liền với quyền sử dụng phần đất có diện tích 67,3m2, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 cho ông Anh trực tiếp quản lý và buộc ông Anh phải bồi hoàn cho bà Sen được hưởng ½ giá trị tài sản là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ngày 17/5/2021, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án, ngày 20/5/2021 bị đơn bà Nguyễn Thị Sen có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm là trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen cùng thống nhất: Ông Anh, bà Sen là vợ chồng đã ly hôn hôn theo quyết định của Bản án số: 55/2020/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Khi ly hôn, ông Anh và bà Sen không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung. Khi ly hôn Tòa án đã giao con chung Nguyễn Thị Hồng My, sinh ngày 25/5/2015 cho Nguyễn Thế Anh trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thị Thùy Lâm, sinh ngày 16/9/2012 cho chị Sen trực tiếp nuôi dưỡng.

Giữa nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận phần đất có diện tích 67,3m2 và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL997696, số vào sổ CS14946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/7/2018 cho ông Nguyễn Thế Anh và bà Nguyễn Thị Sen là tài sản chung của vợ chồng. Xét thấy, đây là tình tiết chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đều đống ý chia đôi tài sản chung và yêu cầu được nhận bằng hiện vật. Tuy nhiên, phần đất các đương sự yêu cầu được chia không đảm bảo diện tích tối thiểu tách thửa theo quy định pháp luật. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho 1 bên quản lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Sen về việc yêu cầu được nhận phần đất có diện tích 67,3m2 và tài sản gắn liền với đất. Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Sen đều xác định hiện nay bà đang quản lý, sử dụng 01 căn nhà có kết cấu 1 trệt, 1 lầu gắn liền phần đất có diện tích khoảng 70m2, nhà và đất tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là tài sản chung của vợ chồng chưa chia. Như vậy, bà Sen đã có chỗ ở ổn định. Về phía Nguyễn Thế Anh là người trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất tranh chấp, ngoài ra ông Anh không có nơi ở nào khác và các đương sự đều trực tiếp là người đang nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao cho ông Nguyễn Thế Anh sử dụng tài sản và buộc ông Anh phải bồi hoàn cho bà Sen ½ giá trị tài sản là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 2, Điều 33, khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về phần này.

Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Sen về số tiền nợ Ngân hàng là 637.856.000 đồng. Với lý do mặc dù là khoản nợ chung nhưng ông Anh chỉ sử dụng một phần vào việc thanh toán tiền mua đất phần còn lại ông Anh sử dụng để kinh doanh quán café nên bà Sen chỉ đồng ý thanh toán 200.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Các đương sự đều xác định khoản nợ Ngân hàng được vay trong thời kỳ hôn nhân và dùng khoản nợ để thanh toán tiền mua thửa đất số 8090. Do vậy có căn cứ xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng ông Anh và bà Sen. Về phía bị đơn xác định chỉ sử dụng 1 phần khoản vay vào mục đích chung là mua đất, phần còn lại ông Nguyễn Thế Anh sử dụng vào mục đích kinh doanh quán cà phê. Xét thấy, quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị Sen không có yêu cầu phản tố chia phần tài sản ông Anh đã sử dụng nguồn tiền vay chung của vợ chồng vào mục đích đầu tư quán cafe trong vụ án này, đồng thời bà Sen cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc ông Anh đã sử dụng số tiền vay nợ Ngân hàng để sử dụng vào việc riêng cá nhân của ông Anh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về phần này. Trong trường hợp này bị đơn có quyền khởi kiện trong một vụ án khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về nội dung kháng cáo này.

Từ những phân tích nêu trên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Sen.

Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là có căn cứ.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.

Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Sen.

2. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2021/HNGĐ-ST, ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Sen phải nộp 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền bà Sen nộp tạm ứng theo Biên lai thu số AA/2016/0049671 ngày 04/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ