vanban.org

Bản án 22/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai Tuyên án 22/09/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền 92.553.958 đồng, trong đó tiền gốc là 40.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PĂH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
------------
Bản án số: 22/2021/DS-ST
Ngày: 29/9/2021
V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bình.

2. Ông Đỗ Mạnh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Păh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2020/TLST-DS, ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST - DS ngày 17 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2021/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Đ - Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai (theo quyết định ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019).

- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Ngô Đình N - Trưởng phòng KH-KD Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai (theo giấy ủy quyền số 66/NHNoCP.ĐGL-GUQ ngày 06/11/2020).

Địa chỉ: Số 8.., đường H, thị trấn P, huyện Chư Păh, Gia Lai. Có mặt

2. Bị đơn: - Ông Trương Văn T, sinh năm 1969;

- Bà Trần Thị N, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Thôn ..., xã I, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai (Ngân hàng) ông Ngô Đình N trình bày:

Ngày 25/9/2015, ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có ký với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai Hợp đồng tín dụng số: 2028/HĐTD vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn của hạn mức tín dụng là 36 tháng kể từ ngày 25/9/2015, phương pháp trả lãi tiền vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề suất giải ngân, mục đích vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề suất giải ngân.

Để đảm bảo cho khoản vay nói trên, ông Trương Văn T và bà Trần Thị N đã thế chấp cho Ngân hàng thửa đất số 25.., tờ bản đồ 5.., diện tích 114m2 đất ở tại: Thôn .., xã I, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY488700 cấp ngày 27/7/2015 mang tên ông Trương Văn T và bà Trần Thị N, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 901/HĐTC ngày 25/9/2015.

- Tại giấy nhận nợ số 01/GNN ngày 30/9/2015: Số tiền vay 70.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 30/9/2016, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 06 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh và chăn nuôi heo thịt. Ông T bà N đã trả tiền lãi đến ngày 31/10/2016.

Từ ngày 01/10/2016 khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc đòi nợ nhưng ông T bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu ông T bà N phải trả số tiền nợ gốc là 70.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 04/8/2020 là 42.364.583đồng, (trong đó lãi trong hạn là 0 đồng, lãi quá hạn là 42.364.583đồng), tổng cộng là 112.364.583 đồng và tiền lãi đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đến ngày 08/3/2021, ông T bà N có trả được cho Ngân hàng 30.000.000 đồng tiền gốc. Do đó, Ngân Hàng xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 01/10/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2021 là 52.553.958 đồng (trong đó lãi trong hạn là 0 đồng, lãi quá hạn là 52.553.958 đồng), tổng cộng là 92.553.958 đồng. Ông T bà N phải tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong.

- Tại giấy nhận nợ số 02/GNN ngày 09/10/2015: Số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 09/10/2016, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 06 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh và chăn nuôi heo thịt.

Ông T bà N đã trả tiền lãi đến ngày 25/8/2016. Còn tiền gốc ngày 26/8/2016, ông T bà N trả 1.000.000 đồng, ngày 09/11/2019 trả 1.000.000 đồng. Từ ngày 11/10/2016, khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc đòi nợ nhưng ông T bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền nợ gốc là 28.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 26/8/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2021 là 23.114.583 đồng (trong đó lãi trong hạn là 389.083 đồng, lãi quá hạn là 22.725.500 đồng), tổng cộng là 51.114.583 đồng. Ông T bà N phải tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong.

Trường hợp T bà N không thực hiện thanh toán các khoản nợ nói trên cho Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn ông Trương Văn T và bà Trần Thị N, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông T bà N không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của ông T bà N đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 463, 466, 468, 470, 688 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông Chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền gốc và lãi của hai khoản vay là 143.668.541 đồng. Trong đó: tiền gốc là 68.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày xét xử (29/9/2021) là 75.668.541 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp T bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 901/HĐTC ngày 25/9/2015 để thu hồi nợ. Về án phí: Ông T bà N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ. Đối với chi phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thì nguyên đơn có yêu cầu nên nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về hợp đồng tín dụng: Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số: 2028/HĐTD ngày 25/9/2015 được ký kết giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai với ông Trương Văn T và bà Trần Thị N thì ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn của hạn mức tín dụng là 36 tháng kể từ ngày 25/9/2015, phương pháp trả lãi tiền vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề suất giải ngân, mục đích vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề suất giải ngân.

Căn cứ vào Giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân số 01/GNN ngày 30/9/2015 với số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 30/9/2016, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 06 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh và chăn nuôi heo thịt. Ông T bà N trả lãi đến ngày 31/10/2016. Ngày 08/3/2021, ông T bà N có trả được cho Ngân hàng 30.000.000 đồng tiền gốc và Giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân số 02/GNN ngày 09/10/2015 với số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 09/10/2016, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 06 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh và chăn nuôi heo thịt, ông T bà N đã trả lãi đến ngày 25/8/2016, còn tiền gốc có trả được 2.000.000 đồng. Sau đó ông T bà N không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải trả số tiền gốc là 68.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả nợ xong theo 02 giấy nhận nợ kiên báo cáo đề xuất giải ngân số 01/GNN ngày 30/9/2015 và số 02/GNN ngày 09/10/2015 là có căn cứ, cần chấp nhận, cụ thể:

- Tại giấy nhận nợ số 01/GNN ngày 30/9/2015: Ông Trương Văn T và bà Trần Thị N nợ số tiền gốc là 70.000.000 đồng, tuy nhiên, đến ngày 08/3/2021, ông T bà N có trả được cho Ngân hàng 30.000.000 đồng tiền gốc. Do đó, tại phiên tòa Ngân hàng xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền gốc là 40.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 01/10/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2021 là 52.553.958 đồng (trong đó lãi trong hạn là 0 đồng, lãi quá hạn là 52.553.958 đồng), tổng cộng là 92.553.958 đồng. Ông T bà N phải tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong. Xét, việc thay đổi này không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Tại giấy nhận nợ số 02/GNN ngày 30/9/2015: Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền gốc là 28.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 26/8/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2021 là 23.114.583 đồng (trong đó lãi trong hạn là 389.083 đồng, lãi quá hạn là 22.725.500 đồng), tổng cộng là 51.114.583 đồng. Ông T bà N phải tiếp tục trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng.

Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 901/HĐTC ngày 25/9/2015 được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, Hợp đồng đã được công chứng, chứng thực bởi các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, phù hợp với quy định tại các Điều 342, 343, 715, 716, 717, 718, 719, 720 của Bộ luật dân sự 2005. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, kiểm tra hiện trạng sử dụng xác định được hiện trạng sử dụng đất có ranh giới, tứ cận, vị trí, tờ bản đồ đất phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 488700 cấp ngày 27/7/2015. Tại thời điểm thẩm định tài sản không có tranh chấp với bên thứ ba nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông Trương Văn T và bà Trần Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp trên để thu hồi nợ theo Điều 721 của Bộ luật dân sự 2005 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là: 4.000.000 đồng, ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải chịu. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí này. Do đó, cần buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng số tiền này, phù hợp với Điều 157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí, lệ phí:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.534.000 đồng. Ngân hàng yêu cầu thông báo, nên Ngân hàng phải chịu theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự, Ngân hàng đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, 180, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 342, 343, 344, 471, 474, 476, 478, 715, 716, 717, 718, 719, 720, 721 của Bộ luật dân sự 2005. Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015.

- Điều 90, 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền 92.553.958 đồng, trong đó tiền gốc là 40.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 01/10/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2021 là 52.553.958 đồng (lãi trong hạn là 0 đồng, lãi quá hạn là 52.553.958 đồng).

Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền 51.114.583 đồng, trong đó tiền gốc là 28.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 26/8/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2021 là 23.114.583 đồng (lãi trong hạn là 389.083 đồng, lãi quá hạn là 22.725.500 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).

2. Trường hợp ông Trương Văn T và bà Trần Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 901/HĐTC ngày 25/9/2015 để thu hồi nợ.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai chi phí xem xét lại chỗ là 4.000.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trương Văn T và bà Trần Thị N phải chịu 7.183.427 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.957.000 đồng theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0010224, ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án./.

Cỡ chữ