vanban.org

Bản án 22/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa A D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 03/01/2020. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; luật Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS-ST
Ngày: 26-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Tuấn và ông Thùng Văn Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại Nhà văn hóa xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện NP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 28/5/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 16/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mùa A D; sinh năm 1979 tại huyện S, tỉnh Lào Cai; Nơi ĐKHKTT: Bản X 1, xã V, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Bản X 1, xã V, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mùa A P (đã chết) và bà Thào Thị S; Bị cáo có vợ là Vàng Thị S và 08 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 31/5/2012 bị Tòa án nhân dân huyện MN, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 48/2012/HSST, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/01/2020, sau đó tạm giam từ ngày 12/01/2020 cho tới nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vàng Thị S, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Bản X 1, xã V, huyện NP, tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người phiên dịch cho chị Vàng Thị S: Chị Hồ Thị C, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Bản SL 2, xã SL, huyện MC, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 45 phút, ngày 03/01/2020, tổ công tác Công an huyện NP phối hợp với công an xã V và Đồn biên phòng NB làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nộc Cốc 2, xã V, huyện NP, tỉnh Điện Biên phát hiện Mùa A D đang điều khiển xe máy có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Sau khi bị tổ công tác yêu cầu kiểm tra, Mùa A D đã giao nộp 01 túi nilon màu hồng được cất giấu trong túi áo khoác đang mặc. Tổ công tác mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 195 viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, nghi là ma túy tổng hợp; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO 120W màu đen, biển kiểm soát 27B1-678.52. Tổ công tác đã đưa người bị bắt và vật chứng về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra Mùa A D khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/01/2020, Dùng điều khiển xe máy hiệu ESPERO 120W màu đen, biển kiểm soát 27B1-678.52 của vợ chồng Dùng, từ nhà đến trung tâm xã V để xem trâu và ăn phở. Khi tới ngã ba bản X 1, xã V, huyện NP, Dùng gặp người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi. Sau khi trao đổi, Dùng đã mua 195 viên Methamphetamine của anh ta với giá 2.000.000 (hai triệu) đồng. Mùa A D mua Methamphetamine với mục đích tàng trữ sử dụng cho bản thân, vì Dùng là người nghiện ma túy.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 04/01/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: 195 (một trăm chín mươi năm) viên nén màu hồng thu giữ của Mùa A D có khối lượng 20,01 (hai mươi phẩy không một) gam, lấy mẫu giám định 0,5 (không phẩy lăm) gam, còn lại 19,51 (mười chín phẩy năm mươi mốt) gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 84/GĐ-PC09, ngày 11/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: "Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A D gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018".

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSNP ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mùa A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Mùa A D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, chị Vàng Thị S nhất trí với lời khai của bị cáo cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Chị Vàng Thị S có nguyện vọng được nhận lại ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO 120W màu đen, biển kiểm soát 27B1-678.52 vì đây là tài sản chung của chị và bị cáo tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Mùa A D từ 07 năm đến 08 năm tù; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là Methamphetamine cùng toàn bộ phần nilon, phong bì niêm phong cũ và tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy; trả lại cho chị Vàng Thị S ½ giá trị chiếc xe máy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Bị cáo Mùa A D nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Mùa A D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình: Vào hồi 15 giờ 45 phút, ngày 03/01/2020, Mùa A D đã có hành vi tàng trữ trái phép 195 viên Methamphetamine có khối lượng 20,01 (hai mươi phẩy không một) gam tại khu vực bản Nộc Cốc 2, xã V, huyện NP. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân, vì bị cáo là người nghiện ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mùa A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:….

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã V, huyện NP. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Hành vi của bị cáo đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời làm gương răn đe giáo dục các đối tượng khác đang và đã có hành vi như bị cáo nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.

Về nhân thân bị cáo: Mùa A D xuất thân trong gia đình nông dân, nhưng không chịu lao động, sống buông thả nên đã nghiện ma túy. Năm 2012 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện MN, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù cùng về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 48/2012/HSST, ngày 31/5/2012. Ngày 15/02/2013 bị cáo được cấp Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù, đến nay đã được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại nghiện ma túy. Đến ngày 03/01/2020, bị cáo lại tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án này.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nương, gia đình bị cáo đông con, không có tài sản giá trị (Biên bản xác minh ngày 05/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP); gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo theo Giấy chứng nhận hộ nghèo số 29/GCN-HN-HCN, ngày 06/02/2020 nên bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với vật chứng là Methamphetamine và túi nilon cần phải tịch thu, tiêu huỷ. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO 120W màu đen, mang biển kiểm soát 27B1-678.52, trong giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên bị cáo Mùa A D. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã xác định được đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là vào năm 2018. Vợ bị cáo là chị Vàng Thị S không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy của gia đình để đi mua ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy và trả lại ½ giá trị chiếc xe máy cho chị Vàng Thị S.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Mùa A D khai nhận đã mua Methamphetamine của người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi, vào chiều ngày 03/01/2020 tại khu vực ngã ba bản X 1, xã V, huyện NP. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã V, huyện NP là xã có điều kiện - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa A D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 03/01/2020.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 19,51 (mười chín phẩy năm mươi mốt) gam Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định và toàn bộ nilon màu hồng, phong bì niêm phong cũ.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO 120W màu đen, biển kiểm soát 27B1-678.52, số máy 152FMJ104565, số khung: E8PEHA104565, tình trạng đã qua sử dụng. Trả lại cho chị Vàng Thị S ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO 120W màu đen, biển kiểm soát 27B1-678.52, số máy 152FMJ104565, số khung: E8PEHA104565,

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/5/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP và Chi cục thi hành án dân sự huyện NP)

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A D.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Mùa A D được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 26/6/2020./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

- VKSND tỉnh Điện Biên;

- VKSND huyện NP;

- Cơ quan CSDDT CA huyện NP;

- Cơ quan THAHS CA NP;

- Nhà tạm giữ CA huyện NP

- Chi cục THA dân sự NP;

- Cơ quan THAHS CA tỉnh Điện Biên;

Phạm Thị Sao

- Sở Tư pháp;

- Lưu hsơ: VA, THAHS.

Cỡ chữ