vanban.org

Bản án 22/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 11/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,66 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được tái niêm phong. Trên mặt bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Nguyễn Thế D có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện(thu giữ) ngày 20 tháng 12 năm 2019 tại tổ 1, phường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS-ST
Ngày 11- 5- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân; Ông Nguyễn Thành Thái

Thư ký phiên toà: Ông Lương Thế Trung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thúy Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2020/TLST- HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo.

Họ và tên: Nguyễn Thế D - Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1977 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Tổ 13, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai;

Nghề nghiệp: Cán bộ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế C và bà Lê Tuyết N. Bị cáo chưa có vợ, có 01 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Quyết định số 30/QĐ -XPHC ngày 11/6/2014 của Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2019 đến ngày 27/12/2019 bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 20/12/2019, Nguyễn Thế D một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu SUZUKI VIVA BKS 24K6 - 8939 từ nơi ở số nhà 120, đường Đ, tổ 13, phường D, thành phố L đến khu vực đường Lương Khánh Thiện, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai nhằm mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi đến khu vực đường Lương Khánh Thiện, Nguyễn Thế D nhìn thấy một người nam giới đang đứng trên vỉa hè, D đến gần và hỏi: “Anh có hàng bán không”, người nam giới trả lời: “Còn, lấy bao nhiêu?”. Sau khi trao đổi xong, Nguyễn Thế D đưa cho người nam giới trên 1.500.000 đồng, người nam giới đưa lại cho Nguyễn Thế D 06 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy Heroine, 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 gói giấy bạc màu trắng chứa ma túy Heroine, 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng được cuộn bằng dây chun màu vàng bên trong chứa ma túy Heroine. Sau khi mua ma túy xong, Nguyễn Thế D cất 06 gói giấy bạc ma túy Heroine vào túi áo khoác bên trái Nguyễn Thế D đang mặc, số ma túy còn lại Nguyễn Thế D cất giấu vào túi quần dài bên trái Nguyễn Thế D đang mặc, sau đó Nguyễn Thế D điều khiển xe đi về nhà. Khi về đến nhà, Nguyễn Thế D lấy 01 gói ma túy từ túi áo khoác bên trái đang mặc để trên mặt bàn trang điểm trong phòng ngủ tầng 2 của Nguyễn Thế D. Sau đó, Nguyễn Thế D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA BKS 24K6 - 8939 đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Đến 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Thế D đang ngồi trên xe máy tại đường Thanh Niên, tổ 01, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy phát hiện bắt giữ 07 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy Heroine. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế D tại tổ 13, phường D, thành phố L thu giữ 01gói giấy bạc màu trắng bên trong bên trong chứa ma túy Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 24/GĐMT ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Mẫu M1: 0,32 (Không phẩy ba mươi hai) gam cục chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin); Mẫu M2: 1,65 (Một phẩy sáu mươi lăm) gam cục chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin); Mẫu M3: 0,14 (Không phẩy mười bốn)gam cục chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thế D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 09/CT-VKSTPLC ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Thế D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA số Seri 354205103037179; Trả lại cho Nguyễn Thế Dũng 01chứng minh nhân dân

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế D: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận do bị cáo là người nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 20/12/2019 tại khu đường Lương Khánh Thiện, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, bị cáo đã mua của một người nam giới không quen biết 08 gói ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy Nguyễn Thế D về nhà tại tổ 13, phường D, thành phố L cất 01 gói tại bàn trang điểm trên tầng hai còn 07 gói mang theo người đi đến đường Thanh Niên, thuộc tổ 01, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai tìm địa điểm để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Khám xét thu giữ tại nhà Nguyễn Thế D 01 gói Heroine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng Heroine bị cáo mua để sử dụng là 2,11gam. Như vậy, với hành vi và số lượng ma túy như trên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, mẹ đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm 5.000.000 đến 500.000.000 đồng...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo không có tài sản, thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 2,11gam chất ma túy Heroine sau khi trích mẫu giám định số ma túy còn lại cần tịch thu tiêu hủy; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA số Seri 354205103037179; Trả lại cho bị cáo 01chứng minh nhân mang tên Nguyễn Thế D

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ 07 ngày tạm giữ.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 1,66 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được tái niêm phong. Trên mặt bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Nguyễn Thế D có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện(thu giữ) ngày 20 tháng 12 năm 2019 tại tổ 1, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai và tổ 13, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”

Tạm giữ 01 điện thoại di động NOKIA số Seri 354205103037179 của Nguyễn Thế D để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thế D 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thế D

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thế D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ