- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HS-ST Ngày: 08-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa.
Thẩm phán: Ông Sùng A Xà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
Ông Phạm Quang Hùng.
Ông Lê Mai Phong.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Trịnh Ngọc Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên số: 26/2020/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Hải C, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1985, tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: đội Bản P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hải L (sinh năm 1964) và bà Quàng Thị B (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/12/2019, tạm giam từ ngày 31/12/2019, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải C do Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên cử: Ông Nguyễn Trần D - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên, có mặt.
- Người chứng kiến: ông Nguyễn Đức L - Sinh năm: 1945; địa chỉ cư trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian đi làm phụ xe khách bị cáo Nguyễn Hải C quen biết một người tên H, sau đó bị cáo nghỉ việc và nghiện ma túy; để có tiền tiêu xài vào khoảng tháng 8/2019 bị cáo gọi điện cho H và nói “ nếu biết ai muốn mua ma túy thì bảo với bị cáo”. Được khoảng một thời gian sau H gọi điện thoại lại cho bị cáo và giới thiệu một người đàn ông tên là T đang tìm mua ma túy. Ngày 25/12/2019, T gọi điện thoại cho bị cáo hỏi mua 10 túi hồng phiến, bị cáo C đồng ý. Sau đó bị cáo liên lạc với Lò Văn S (là anh họ của bị cáo C), đặt vấn đề mua 10 túi hồng phiến, S đồng ý. Một lúc sau S gọi điện lại cho bị cáo C nói có hồng phiến nhưng họ yêu cầu phải đặt cọc trước 10 triệu và bị cáo C phải mang đi bán với giá 05 triệu đồng/túi hồng phiến thì mới có lãi. Bị cáo C gọi điện thỏa thuận giá cả với T, T nhất trí mua 10 túi hồng phiến với giá 05 triệu đồng/túi. Bị cáo Nguyễn Hải C lấy 10 triệu đồng là tiền tiết kiệm của bị cáo và gọi S đến đón sang nhà S ngủ qua đêm. Sáng ngày 26/12/2019, bị cáo C đưa 10 triệu đồng cho S đi mua hồng phiến, đến khoảng 11 giờ cùng ngày S về đưa cho bị cáo C 10 túi hồng phiến, bị cáo cất vào túi áo khoác đang mặc trên người và bảo S lấy xe máy chở bị cáo C đến nhà nghỉ Hạnh Nguyên thuộc Thôn C, xã T, huyện Đ để bán ma túy cho T. Đến nơi, bị cáo C vào nhà nghỉ thuê phòng nghỉ số 2, còn S quay về. Khoảng 12 giờ trưa T đến phòng nghỉ số 2, khi bị cáo C và T đang trao đổi mua bán thì bị tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên kiểm tra bắt giữ được bị cáo C và thu giữ trong túi áo khoác của bị cáo đang mặc 10 túi hồng phiến đựng trong túi nilon màu trắng, trong đó có 08 túi màu xanh và 02 túi màu hồng, còn T lợi dụng sơ hở đã chạy thoát.
Tại bản Kết luận giám định số: 63/GĐ-PC09, ngày 07/01/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 10 (mười) mẫu viên nén màu hồng được ký hiệu từ M1 đến M10 trích ra từ vật chứng thu giữ của Nguyễn Hải C gửi giám định là ma túy: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Hải C là: 191,9gam.
Cáo trạng số: 20/CT-VKS-P1 ngày 23/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hải C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hải C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hải C 20 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 186,9gam Methamphetamine (đã trừ mẫu vật giám định). Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vell-com, màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Hải C là vật bị cáo sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hải C 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Hải C. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải C không tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng và án phí đề nghị HĐXX quyết định theo quy định của pháp luật.
Người chứng kiến ông Nguyễn Đức L trình bày tại cơ quan điều tra: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/12/2019 ông được Công an tỉnh Điện Biên mời chứng kiến việc bắt giữ bị cáo Nguyễn Hải C tại phòng nghỉ số 2 của nhà nghỉ Hạnh Nguyên thuộc Thôn C, xã T, huyện Điện Biên; thu giữ của bị cáo C 10 túi có nhiều viên nén màu hồng, ông nghe thấy bị cáo khai 10 túi viên nén bị thu giữ là ma túy tổng hợp, bị cáo đang giao dịch mua bán với đối tượng tên Thanh thì bị phát hiện bắt quả tang. Việc khai báo của các bị cáo là tự nguyện không ai ép buộc, không bị ai đánh đập.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội:
Qua tranh tụng và thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy: Khoảng 11 giờ ngày 26/12/2019, bị cáo Nguyễn Hải C mang 10 túi hồng phiến đến nhà nghỉ Hạnh Nguyên thuộc Thôn C, xã T, huyện Điện Biên để bán cho đối tượng tên T thì bị Công an tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt giữ. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01- 02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 03); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 37-38); kết luận giám định (BL 44); biên bản ghi lời khai của người chứng kiến Nguyễn Đức L (BL 107-108) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Hải C đã mua 191,9gam Methamphetamine để bán nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 20/CT-VKS-P1 ngày 23/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động mua, bán chất ma túy. Hành vi của bị cáo là một trong các nguyên nhân gây mất trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Tình hình tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, mặc dù các cơ quan pháp luật đã đấu tranh và xử lý rất nghiêm minh đối với các loại tội phạm này nhưng hành vi phạm tội của các đối tượng ngày càng tinh vi. Bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các chất ma túy, biết tác hại của ma túy với đời sống sức khỏe của con người, nhưng vì lợi nhuận bị cáo đã có hành vi giao dịch, mua bán trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo Nguyễn Hải C được gia đình tạo điều kiện học tập văn hóa đến lớn 9/12 thì thôi học. Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án; không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính:
Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vừa đảm bảo tính răn đe, giáo dục vừa thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có thu nhập thường xuyên (BL 55), đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các vấn đề khác của vụ án:
- Đối tượng người nam giới tên Lò Văn S theo lời khai của bị cáo C là người đi mua ma túy cho bị cáo mang đi bán, quá trình xác minh hiện Lò Văn Sáng không có mặt tại địa phương Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh làm rõ sau, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Các đối tượng tên H, T theo lời khai của bị cáo C là người giới thiệu và người đặt mua ma túy của bị cáo, do bị cáo không biết họ, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không có đủ căn cứ để điều tra xử lý.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Cần tịch thu tiêu hủy 186,9gam Methamphetamine đã trừ mẫu gửi giám định vì đây là vật Nhà nước cấm lưu hành.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vell-com, màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Hải C là vật bị cáo sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Trả lại 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Hải C cho bị cáo do không liên quan đến vụ án.
Về án phí:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Hải C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải C 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy: 186,9gam Methamphetamine (đã trừ mẫu gửi giám định) được niêm phong trong 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì niêm phong vật chứng. Mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Hải C; sinh năm 1985; Nơi cư trú: Đội B, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị bắt quả tang ngày 26/12/2019, tại khu vực Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tổng khối lượng số viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Hải C là 191,9 gam, đã trích 10 mẫu gửi giám định khối lượng 05 gam. Tổng khối lượng số viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp còn lại là 186,9 gam. Mặt sau phong bì được dán kín tại các mép dán có chữ ký giáp lai của: Triệu Tiến M, Lầu A T, Trịnh Ngọc M, Trần Sỹ N, Ngô Tiến Q, Nguyễn Hải C cùng 02 hình dấu của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Điện Biên. Gói niêm phong được dán kín bằng băng dính trong suốt để bảo quản.
* Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vell-com, màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Hải C.
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hải C: 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Hải C
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 24 tháng 3 năm 2020).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hải C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Hải C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao; - Vụ giám đốc 1 TAND tối cao; - VKSND tỉnh Điện Biên - Công an tỉnh Điện Biên (PC04); - Phòng HSNV Công an tỉnh (PV06); - Trại tạm giam; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Cục THA dân sự tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - UBND xã (T/B); - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hòa |