vanban.org

Bản án 22/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/2020/LCĐKNCT ngày 15/01/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi bắt bị cáo chấp hành án. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Phương Thanh A và hình dấu Công an Phường 5, Quậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Phương Thanh An - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS-ST
Ngày: 27/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tăng

Ông Nguyễn Tư Sanh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2020/HSST ngày 15/01/2020, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Thị Phương Thanh A, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1974 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Thường trú: A Huỳnh Mẫn Đạt, Phường B, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn B; con bà: Phạm Thị A; Có chồng nhưng đã ly hôn; có một người con sinh năm 2015; Tiền án: Ngày 18/11/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 (mười) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2019 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/7/2019, Phạm Thị Phương Thanh A (sinh năm 1974) đến tiệm game bắn cá Kim Tiền Báu số 1153 Trần Hưng Đạo, Phường 5, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh để chơi game. Đến 21 giờ 35 phút cùng ngày, Công an Phường 5, Quận 5 đến tiệm game bắn cá trên để kiểm tra hành chính thì An không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên tổ kiểm tra mời A về Công an Phường 5, Quận 5 làm việc. Tại trụ sở Công an Phường 5, Quận 5, qua kiểm tra phát hiện bên trong bịch nylon màu đen mà A đang cầm bên tay trái có 01 (một) cái bóp vải, bên trong bóp có 01 (một) phễu thủy tinh để sử dụng ma túy và 01 (một) hộp hình chữ nhật màu trắng xanh, bên trong hộp có 01 (một) bịch nylon chứa tinh thể không màu, A khai là ma túy đá nên Công an Phường 5, Quận 5 tiến hành lập bên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Thị Phương Thanh A.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Phạm Thị Phương Thanh A đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. A khai số ma túy được thu giữ là của A nhờ một người bạn ngoài xã hội tên “Heo nhỏ” (không rõ lai lịch) mua dùm với giá 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) để sử dụng.

Đối với đối tượng không rõ lai lịch tên “Heo nhỏ” đã mua giúp ma túy cho bị cáo A để sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vật chứng thu giữ:

01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (một) bóp vải màu xanh; 01 (một) phễu thủy tinh; 01 (một) hộp hình chữ nhật màu trắng xanh; 01 (một) điện thoại di động có vỏ màu đen hiệu Masstel là của Phạm Thị Phương Thanh A dùng để liên lạc với gia đình.

Tại bản Kết luận giám định số 1440/KLGĐ-H ngày 19 tháng 7 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Phương Thanh A và hình dấu Công an Phường 5, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0549g (không phẩy không năm bốn chín gam), loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 11/CT-VKSQ5 ngày 07/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,0549g (không phẩy không năm bốn chín gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng nhưng trước đây bị cáo đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A đã có hành vi cất giữ trái phép 0,0549g (không phẩy không năm bốn chín gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Tuy nhiên, trước đây bị cáo đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do đó, hành vi của bị cáo là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu và đã từng bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 (mười) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn chưa thấy được tác hại của ma túy nên cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cai nghiện ma túy và cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên “Heo nhỏ” đã mua giúp ma túy cho bị cáo A để sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về xử lý vật chứng:

Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Phương Thanh A và hình dấu Công an Phường 5, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0549g (không phẩy không năm bốn chín gam), loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1440/2019 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ Trần Thanh Trí. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) bóp vải màu xanh; 01 (một) phễu thủy tinh; 01 (một) hộp hình chữ nhật màu trắng xanh. Xét đây là các vật dụng của bị cáo dùng vào việc cất giấu, sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động có vỏ màu đen hiệu Masstel là của Phạm Thị Phương Thanh A dùng để liên lạc với gia đình. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Phương Thanh A 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/2020/LCĐKNCT ngày 15/01/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi bắt bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Phương Thanh A và hình dấu Công an Phường 5, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0549g (không phẩy không năm bốn chín gam), loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1440/2019 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ Trần Thanh Trí.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bóp vải màu xanh; 01 (một) phễu thủy tinh; 01 (một) hộp hình chữ nhật màu trắng xanh;

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động có vỏ màu đen hiệu Masstel có số Imel 1: 351670099028545.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ