vanban.org

Bản án 22/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 08/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Hoài M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Hoài M 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bị cáo Triệu Hoài M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Hoài M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS-ST
Ngày 08/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Tám

2. Ông Nguyễn Văn Quí

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Triệu Hoài M, sinh năm 1984 tại quận Ô, thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Số Z, khu vực T, phường P, quận O, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Công B và bà Phạm Thị B; vợ Phạm Thị H và 01 người con sinh năm 2010.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 2000 (chết ngày 17/01/2020)

Người đại diện theo pháp luật của bị hại là:

1/ Ông Nguyễn Cửu H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số Z, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

2/ Bà Hà Thị Hồng L, sinh năm 1977

Nơi cư trú: số N, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bà Hà Thị Hồng L: Ông Nguyễn Cửu H, sinh năm 1972, Nơi cư trú: Số N, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ là đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/02/2020) (vắng mặt)

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thanh B – giám đốc

Địa chỉ: số N đường Z khu vực Z, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ: Ông Võ Anh T, sinh năm 1975 – nhân viên điều phối của công ty, địa chỉ: Số N, đường Z, khu vực Z, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ là đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/7/2020) (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Công ty bảo hiểm B.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Thanh U – Giám đốc Công ty (vắng mặt)

Địa chỉ: Số N, V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

2/ Công ty B

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy X – Giám đốc Công ty (vắng mặt)

Địa chỉ: Số N, đường Z, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/01/2020, Triệu Hoài M (là người có giấy phép lái xe hạng FC theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 54 theo hướng từ huyện T về thị xã B. Khi đến đoạn đường Km61 + 823m thuộc địa phận ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 65B2-205.32 do Nguyễn Hồng P điều khiển đang chạy cùng chiều phía trước (hướng T – thị xã B). Hậu quả: Nguyễn Hồng P tử vong tại chỗ, xe mô tô biển số 65B2 - 205.32 bị hư hỏng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (Một) xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; 01 (Một) sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85 và 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; tất cả thuộc sở hữu của Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ, địa chỉ: Số Z, đường N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ; 01 (Một) thẻ căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe hạng FC, tất cả mang tên Triệu Hoài M.

- 01 (Một) xe mô tô biển số 65B2 - 205.32 của bị hại Nguyễn Hồng P.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 35/KLGĐ-PC09 ngày 19/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Hồng P, như sau:

1. Các dấu hiệu chính qua giám định

- Giập nát mô não thùy thái dương – đỉnh hai bên, chảy não ra ngoài.

- Vỡ nát xương sọ thành nhiều mảnh diện rộng.

- Gãy toàn bộ các xương vùng ngực.

- Giập, vỡ toàn bộ nội tạng.

- Gãy kín nhiều đoạn xương sống.

- Gãy xương chậu và xương đùi phải.

- Nhiều vết thương rách giập nham nhở diện rộng vùng ngực, bụng.

- Toàn thân da, niêm, mạc nhợt nhạt.

2. Nguyên nhân chết của tử thi Nguyễn Hồng P là do sốc đa chấn thương.

Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 17/01/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình, xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường rãi nhựa bằng phẳng, thông thoáng, là đường hai chiều có vạch kẻ đường phân làn đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, chiều rộng mặt đường là 5,80 mét, điểm va chạm cách mép đường bên phải theo hướng T – B là 0,40 mét.

Căn cứ Biên bản kết luận nguyên nhân trong vụ tai nạn giao thông đường bộ số 06/KLNN – CSĐT ngày 05/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình kết luận:

- Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Triệu Hoài M điều khiển phương tiện xe ô tô đầu kéo mang biển số 65C-103.61 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85 vượt không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông từ đó dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông. Do đó, Triệu Hoài M đã vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, có lỗi.

Tại khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, quy định: “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”.

- Đối với Nguyễn Hồng P điều khiển xe mô tô 65B2-205.32 đang lưu thông phía trước và chạy đúng phần đường quy định thì bị phương tiện xe ô tô đầu kéo mang biển số 65C-103.61 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85 do Triệu Hoài M điều khiển chạy từ phía sau vượt lên va chạm vào. Do đó, Nguyễn Hồng P không vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, không có lỗi.

Xử lý vật chứng:

- Ngày 21/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả lại: 01 (Một) xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; 01 (Một) sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp sơmi rơ moóc số 65R-003.85; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85 và 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61 cho ông Võ Thanh B là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ.

- Ngày 25/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình đã trao trả lại: 01 (Một) xe mô tô biển số 65B2-205.32 cho ông Nguyễn Cửu H là đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại Nguyễn Hồng P.

- Chuyển các vật chứng gồm: 01 (Một) thẻ căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe hạng FC tất cả mang tên Triệu Hoài M đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình để xử lý sau.

Trách nhiệm dân sự:

- Ông Nguyễn Cửu H là đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường gồm tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần, tiền sửa chữa xe tổng cộng là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Trong đó, bị cáo Triệu Hoài M bồi thường số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ bồi thường số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

- Đối với xe tô đầu kéo biển số 65C-103.61 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty Bảo hiểm B, có thời hạn bảo hiểm từ 07 giờ ngày 12/11/2019 đến 24 giờ ngày 11/11/2020. Công ty B đã chi trả tiền bồi thường đối với người thứ ba cho Triệu Hoài M và Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) vào ngày 18/03/2020.

- Đối với xe mô tô biển số 65B2-205.32 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty B, có thời hạn bảo hiểm từ 08 giờ ngày 22/10/2019 đến 08 giờ ngày 22/10/2020. Công ty B đã chi trả bồi thường cho gia đình nạn nhân anh Nguyễn Hồng P với số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vào ngày 04/5/2020.

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSTB ngày 21/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Triệu Hoài M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Triệu Hoài M thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Triệu Hoài M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Triệu Hoài M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Hoài M mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự: Cấm bị cáo Triệu Hoài M hành nghề lái xe ô tô thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Về phần trách nhiệm dân sự:

- Ông Nguyễn Cửu H là đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

- Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ không yêu cầu bị cáo M trả lại tiền đã bồi thường cho gia đình bị hại nên không xem xét giải quyết.

- Đối với xe ôtô đầu kéo biển số 65C-103.61 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty Bảo hiểm B, có thời hạn bảo hiểm từ 07 giờ ngày 12/11/2019 đến 24 giờ ngày 11/11/2020. Công ty Bảo hiểm B đã chi trả tiền bồi thường đối với người thứ ba cho Triệu Hoài M và Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với xe mô tô biển số 65B2-205.32 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty B, có thời hạn bảo hiểm từ 08 giờ ngày 22/10/2019 đến 08 giờ ngày 22/10/2020. Công ty B đã chi trả bồi thường cho gia đình nạn nhân anh Nguyễn Hồng P với số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo 01 (Một) giấy phép lái xe hạng FC, 01 (Một) thẻ căn cước công dân mang tên Triệu Hoài M.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kết luận nguyên nhân trong vụ tai nạn giao thông đường bộ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/01/2020, Triệu Hoài M (là người có giấy phép lái xe hạng FC theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 65C-103.61 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 65R-003.85 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 54 theo hướng từ huyện T về thị xã B, khi đến đoạn đường Km61 + 823m thuộc địa phận ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 65B2-205.32 do Nguyễn Hồng P điều khiển đang chạy cùng chiều phía trước (hướng T – thị xã B).

Hậu quả: Nguyễn Hồng P tử vong tại chỗ, xe mô tô biển số 65B2-205.32 bị hư hỏng.

Hành vi của bị cáo Triệu Hoài M đủ cơ sở quy kết bị cáo phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng số 23/CT-VKSTB ngày 21/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo và lời luận tội của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm là hoàn toàn có căn cứ.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn và hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và tính mạng của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông dẫn đến hậu quả làm chết một người và gây đau thương cho gia đình người bị hại không gì bù đắp được nên cần xử lý bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội nhằm để ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo yêu cầu phía gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạm tội do lỗi vô ý nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đại diện theo pháp luật của bị hại là ông H, bà L có ông H làm đại diện theo ủy quyền đã nhận xong số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần và tiền sửa chữa xe môtô biển số 65B2- 205.32 là 300.000.000 đồng. Nay ông H, bà L có ông H làm đại diện theo ủy quyền không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.

- Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ không yêu cầu bị cáo M trả lại tiền đã bồi thường cho gia đình bị hại nên không xem xét giải quyết.

- Đối với xe ôtô đầu kéo biển số 65C-103.61 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty B. Công ty Bảo hiểm B đã chi trả tiền bồi thường đối với người thứ ba cho Triệu Hoài M và Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) vào ngày 18/3/2020. Nay Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ và bị cáo M không có yêu cầu gì thêm đối với Công ty B nên không xem xét giải quyết.

- Đối với xe mô tô biển số 65B2-205.32 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty B. Công ty B đã chi trả bồi thường cho gia đình nạn nhân anh Nguyễn Hồng P với số tiền là: 10.000.000 đồng vào ngày 04/5/2020. Ông H không có yêu cầu gì thêm đối với Công ty B nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Triệu Hoài M: 01 (Một) thẻ căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe hạng FC, tất cả mang tên Triệu Hoài M.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, vụ án ngày 22/5/2020.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo M phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Hoài M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Hoài M 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

1.3 Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự: Cấm bị cáo Triệu Hoài M hành nghề lái xe ô tô thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về trách nhiệm dân sự:

- Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Hồng P là ông Nguyễn Cửu H, bà Hà Thị Hồng L có ông Nguyễn Cửu H làm đại diện theo ủy quyền đã nhận xong số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm tiền chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần và tiền sửa chữa xe môtô biển số 65B2 – 205.32 tổng cộng là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.

- Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ không yêu cầu bị cáo M trả lại tiền đã bồi thường cho gia đình bị hại nên không xem xét giải quyết.

- Đối với xe ôtô đầu kéo biển số 65C-103.61 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty B. Công ty Bảo hiểm B đã chi trả tiền bồi thường đối với người thứ ba cho Triệu Hoài M và Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Công ty TNHH dịch vụ vận tải Đ và bị cáo M không có yêu cầu gì thêm đối với Công ty B nên không xem xét giải quyết.

- Đối với xe mô tô biển số 65B2-205.32 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty B. Công ty B đã chi trả bồi thường cho gia đình nạn nhân anh Nguyễn Hồng P với số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ông H, bà L là đại diện theo pháp luật của anh P không có yêu cầu gì thêm đối với Công ty B nên không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Triệu Hoài M: 01 (Một) thẻ căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe hạng FC, tất cả mang tên Triệu Hoài M.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, vụ án ngày 22/5/2020.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Triệu Hoài M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ