vanban.org

Bản án 22/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2019.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Phạt tiền đối với bị cáo Lê Văn N là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng và 01 cân điện tử (đ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Nh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS - ST
Ngày: 23 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Hùng Hạnh;

Ông Phạm Xuân Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2020/ QĐXXST- HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn N; sinh năm 1974, tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 10 xã HS, huyện GT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H (đã chết) và bà Phan Thị H1; sinh năm 1955; vợ là Nguyễn Như Q; sinh năm 1979 (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 1997; tiền án: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ra trại ngày 03/02/2018; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quang Nam xử phạt 09 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2019; tạm giam từ ngày 02/12/2019 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; “có mặt”.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 23/11/2019, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tôi phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực ở xóm 10 xã HS, huyện GT, tỉnh NĐ phát hiện bắt quả tang Lê Văn N có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra. N tự giác giao nộp 01 túi nilon kích thước 10 x 15 cm, bên trong có 20 gói giấy bạc màu trắng, trong mỗi gói giấy bạc có chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong ký hiệu N. N khai: khoảng 08 giờ cùng ngày, N vào chợ xã Giao Tiến mua của một người không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói heroine với giá 1.000.000đồng, sau đó mang về nhà chia thành 21 gói. N sử dụng 01 gói, còn 20 gói heroine N cất giấu để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, còn thu giữ của N 01 điện thoại Iphone màu trắng, 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn N và số tiền 3.000.000đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của N, tổ công tác còn thu giữ tại gian buồng nhà trên của N 01 cân điện tử màu đen đã cũ. Tổ công tác đã bàn giao đối tượng, vật chứng thu giữ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Lê Văn N khai nhận ngày 13/10/2019, N đã bán cho Nguyễn Văn Đ 02 gói heroine với giá 450.000 đồng. Ngày 13/10/2019, Đ bị Công an xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đ khai nhận số heroin bị thu giữ là do Đ mua của Lê Văn N với giá 450.000 đồng và đã bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đưa ra xét xử theo quy định

Ngày 24/11/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số heroine đã thu giữ gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 1043/GĐKTHS ngày 25/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 20 (hai mươi) gói giấy bạc màu trắng được niêm phong ký hiệu N gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu N: 1,553gam”.

Tại bản cáo trạng số: 24/CT - VKS ngày 09/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) năm tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 cân điện tử (đã cũ); Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 450.000 đồng thu giữ của Lê Văn N . Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo tỏ rõ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/11/2019, Lê Văn N đã có hành vi cất giấu 20 gói heroine có khối lượng 1,553gam nhằm mục đích để bán kiếm lời và ngày 13/10/2019 đã có hành vi bán 02 gói heroine cho Nguyễn Văn Đ với giá 450.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố Lê Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người không những thế bị cáo còn mua ma túy về bán lại cho những con nghiện khác thu lợi bất chính. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục phạm tội do đó cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng TNHS: Ngày 08/9/2016, Lê Văn N bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm ngày 23/11/2019, tỏ rõ ăn năn hối cải, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và N thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Bị cáo mua bán ma túy nhằm thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo một mức phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

[7.1] Đối với số heroine hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành và 01 cân điện tử (đã cũ) dùng vào việc mua bán ma túy cần tịch thu cho tiêu hủy.

[7.2] Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của N, quá trình điều tra xác định là do N lao động mà có nên cơ quan điều tra đã trả lại cho N 2.550.000 đồng, còn lại 450.000 đồng do N bán ma túy cho Đ mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7.3] Đối với 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn N; 01 điện thoại Iphone (đã qua sử dụng) là tài sản hợp pháp của N, không liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho N là phù hợp.

[8] Về nguồn gốc số heroin thu giữ của Lê Văn N, N khai nhận mua của một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ tại chợ xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy. Nhận thấy, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã bán heroine cho N theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn N, cơ quan điều tra đã xử lý bằng biện pháp hành chính là phù hợp.

[10] Đối với Nguyễn Văn Đ mua của N 02 gói heroin với giá 450.000đồng. Ngày 13/10/2019 Nguyễn Văn Đ đã bị Công an xã HS bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ đã bị Tòa án N dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử theo quy định của pháp luật.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2019.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Phạt tiền đối với bị cáo Lê Văn N là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng và 01 cân điện tử (đã cũ) thu giữ của Lê Văn N; Tịch thu cho tiêu hủy 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1043/GĐKTHS ngày 25/11/2019 và số 959/GĐKTHS ngày 14/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 11/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lê Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ