vanban.org

Bản án 22/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 24/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T nộp phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Về vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS-ST.
Ngày 24/6/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Mên.

Ông Nguyễn Trung Hòa.

Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2020/TLST - HS, ngày 08 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXXST- HS, ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với:

Bị cáo Đặng Văn T, sinh năm 1970, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Chổ ở hiện nay: Khóm H, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn K, sinh năm 1933 và bà Trần Thị C, sinh năm 1934 (chết); có vợ tên Lê Thị D, sinh năm 1965; không có con. Anh, chị, em ruột gồm có 07 người (kể cả bị cáo) lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1976. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/6/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt không lý do.

- Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1988. Vắng mặt không lý do.

- Anh Lê Hữu P, sinh năm 1986. Vắng mặt không lý do.

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979. Vắng mặt không lý do.

- Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1982. Vắng mặt không lý do.

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1970. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Anh Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm:

- Tiền Việt Nam: 3.820.000 đồng.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, có số thuê bao 0362.3503507, đã qua sử dụng.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen, loại bàn phím (có hai số thuê bao là 0397.273.851 và 0913.703.281), đã qua sử dụng.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen, loại bàn phím (có hai số thuê bao là 0919.269.318 và 0355.826.257), đã qua sử dụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị can Đặng Văn T hằng ngày đi bán vé số ở khu vực thị trấn M, xã M và xã H, thuộc huyện C, đồng thời tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền, khi có người mua số đề thì nhắn tin hoặc gọi điện vào số điện thoại di động của bị can, sau đó bị can tổng hợp số tiền mua đề của từng người rồi nhắn tin qua điện thoại di động bán lại tất cả lô đề cho một người phụ nữ tên T ở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (không biết địa chỉ cụ thể). Khi nào có kết quả xổ số thì mới tính tiền thắng thua và giao nhận tiền.

Hình thức ghi đề và cách thức tính tiền ăn thua dựa vào kết quả xổ số Miền Nam và kết quả xổ số Miền Bắc, cụ thể như sau:

- Đầu đuôi: Là hai số của giải tám và hai số cuối cùng của giải đặc biệt, tỷ lệ ăn thua 1/70 lần.

- Bao lô hai con số: Đối với đài Miền Nam tất cả gồm 18 lô nhưng chỉ lấy tiền của người mua đề là 14 lô; còn đài Miền Bắc gồm 27 lô nhưng chỉ lấy tiền của người mua đề là 20 lô, tính từ dãy tám đến hai số cuối cùng của dãy đặc biệt, tỷ lệ ăn thua 1/70 lần.

- Bao lô ba con số: Là ba số từ dãy bảy đến ba số cuối cùng của dãy đặc biệt, tỷ lệ ăn thua 1/60 lần.

- Đá: Nghĩa là nếu ra hai cặp số thì trúng tỷ lệ 1/60 lần; nếu ra 03 cặp số thì trúng tỷ lệ 1/120 lần. Nếu chỉ ra một cặp số thì không trúng.

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, bị can Đặng Văn T tham gia đánh bạc với số tiền như sau:

* Đối với xổ số Miền Nam: Mở số lúc 16 giờ 15 phút ngày 12/02/2020 với ba đài Đồng Nai, Sóc Trăng và Cần Thơ, bị can nhận ghi số đề cho những người:

- Ngô Văn Đ: Mua số 09 với hình thức bao lô ba đài, mỗi đài 50.000đ với tổng số tiền là 2.100.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 50.000đ) . Kết quả không trúng.

- Nguyễn Văn H nhờ Ngô Văn Đ mua dùm số 09 bao lô ba đài, mỗi đài 5.000đ với số tiền 210.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 5.000đ). Kết quả không trúng.

- Nguyễn Thanh N:

+ Mua số 10 bao lô ba đài, mỗi đài 20.000đ với tổng số tiền là 840.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 20.000đ).

+ Mua số 72 bao lô ba đài, mỗi đài 20.000đ với tổng số tiền là 840.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 20.000đ).

+ Mua số 010 bao lô ba đài, mỗi đài 10.000đ với tổng số tiền là 420.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 10.000đ)

+ Mua số 272 bao lô ba đài, mỗi đài 10.000đ với tổng số tiền là 420.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 10.000đ)

Tất cả số đề Nguyễn Thanh N mua nêu trên đều không trúng.

- Huỳnh Thị D:

+ Mua số 11 bao lô ba đài, mỗi đài 10.000đ với tổng số tiền là 420.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 10.000đ). Kết quả trúng được 700.000đ.

+ Mua số 77 bao lô ba đài, mỗi đài 10.000đ với tổng số tiền là 420.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 10.000đ). Kết quả trúng được 700.000đ.

+ Mua số 99 bao lô ba đài, mỗi đài 10.000đ với tổng số tiền là 420.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 10.000đ). Kết quả không trúng.

- Nguyễn Hoàng K:

+ Mua số 85 bao lô ba đài, mỗi đài 5.000đ với tổng số tiền là 210.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 5.000đ). Kết quả trúng được 350.000đ.

+ Mua số 121 bao lô ba đài, mỗi đài 5.000đ với tổng số tiền là 210.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 5.000đ). Kết quả không trúng.

+ Mua số 185 bao lô ba đài, mỗi đài 2.000đ với tổng số tiền là 80.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 2.000đ). Kết quả không trúng.

- Nguyễn Thị M:

+ Mua số 03 bao lô ba đài, mỗi đài 10.000đ với tổng số tiền là 420.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 10.000đ). Kết quả trúng được 1.400.000đ.

+ Mua số 888 bao lô ba đài, mỗi đài 2.500đ với tổng số tiền là 105.000đ (14 lô/đài x 3 đài x 2.500đ). Kết quả không trúng.

+ Mua số 11 D 37 với hình thức đá với nhau (nghĩa là nếu ra số 11 và 37 thì trúng tỷ lệ 1/60 lần), mua ba đài, mỗi đài 1.000đ với tổng số tiền 140.000đ. Kết quả không trúng.

+ Mua số 34 D 37 với hình thức đá với nhau (nghĩa là nếu ra số 34 và 37 thì trúng tỷ lệ 1/60 lần), mua ba đài, mỗi đài 1.000đ với tổng số tiền 140.000đ. Kết quả không trúng.

+ Mua số 03 D 77 với hình thức đá với nhau (nghĩa là nếu ra số 03 và 77 thì trúng tỷ lệ 1/60 lần), mua ba đài, mỗi đài 1.000đ với tổng số tiền 140.000đ. Kết quả trúng được 600.000đ.

+ Mua số 17 D 34 với hình thức đá với nhau (nghĩa là nếu ra số 17 và 34 thì trúng tỷ lệ 1/60 lần), mua ba đài, mỗi đài 1.000đ với tổng số tiền 140.000đ. Kết quả không trúng.

- Nguyễn Thị L: Mua số 64, 30, 13, 20, hình thức đầu đuôi, mua một đài Sóc Trăng, mỗi số 10.000đ với tổng số tiền là 80.000đ. Kết quả không trúng.

Như vậy, số tiền đánh bạc dưới hình thức ghi số đề dựa vào kết quả xổ số Miền Nam của bị can Đặng Văn T là 11.500.000 đồng (số tiền bị can nhận ghi đề là 7.750.000đ; số tiền bị can phải trả cho những người trúng số đề gồm: Huỳnh Thị D 1.400.000đ, Nguyễn Hoàng K 350.000đ, Nguyễn Thị M 2.000.000đ).

* Đối với xổ số Miền Bắc: Mở số lúc 18 giờ 15 phút ngày 12/02/2020, bị can nhận ghi đề cho những người sau đây:

- Ngô Văn Đ:

+ Mua số 34 với hình thức bao lô, mua 100.000đ với tổng số tiền 2.000.000đ (20 lô x 100.000đ). Kết quả không trúng.

+ Mua số 734 với hình thức bao lô, mua 15.000đ với tổng số tiền 300.000đ (20 lô x 15.000đ). Kết quả không trúng.

- Nguyễn Thanh N:

+ Mua số 10 với hình thức bao lô, mua 100.000đ với tổng số tiền 2.000.000đ (20 lô x 100.000đ). Kết quả không trúng.

+ Mua số 010 với hình thức bao lô, mua 10.000đ với tổng số tiền 200.000đ ( 20 lô x 100.000đ). Kết quả không trúng.

- Nguyễn Hoàng K:

+ Mua số 49 với hình thức bao lô, mua 10.000đ với tổng số tiền 200.000đ (20 lô x 10.000đ). Kết quả trúng được 1.400.000đ.

+ Mua số 94 với hình thức bao lô, mua 10.000đ với tổng số tiền 200.000đ (20 lô x 10.000đ). Kết quả không trúng.

- Nguyễn Thị M:

+ Mua số 14 với hình thức bao lô, mua 30.000đ với tổng số tiền 600.000đ (20 lô x 30.000đ). Kết quả không trúng.

+ Mua số 49 D 50, 51 hình thức đá với nhau, mua 1.000đ với tổng số tiền 120.000đ. Kết quả không trúng.

- Lê Hữu P (nhờ Nguyễn Thanh N mua số đề):

+ Mua số 10 với hình thức bao lô, mua 10.000đ với tổng số tiền 200.000đ (20 lô x 10.000đ). Kết quả không trúng.

+ Mua số 310 với hình thức bao lô, mua 10.000đ với tổng số tiền 200.000đ (20 lô x 10.000đ). Kết quả không trúng.

Như vậy, số tiền đánh bạc dưới hình thức ghi số đề dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc của bị can Đặng Văn T là 7.420.000đ (số tiền bị can nhận ghi đề là 6.020.000đ; số tiền bị can phải trả cho người trúng số đề là Nguyễn Hoàng K 1.400.000đ).

Đến khoảng 09 giờ 45 phút ngày 13/02/2020, bị can Đặng Văn T đến nhà anh Ngô Văn Đ thuộc ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh để nhận tiền ghi đề, khi bị can đang nhận số tiền 3.000.000đ của anh Đ thì bị Công an huyện Cầu Ngang bắt quả tang, quản lý cùng tang vật (lúc bắt quả tang); quản lý trên người của bị can gồm: Tiền Việt Nam 5.203.000đ; 02 điện thoại di động hiệu Masstel, loại bàn phím (trong này một cái màu xanh đen có hai số thuê bao là 0397.273.851 và 0913.703.281; một cái màu đỏ đen có hai số thuê bao là 0919.269.318 và 0355.826.257). Quản lý của anh Ngô Văn Đ một điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, số thuê bao 0362.350.507.

Vụ việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang làm rõ, bị can đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngày 06/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Văn T và áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Đối với Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thanh N, Huỳnh Thị D, Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L, Lê Hữu P tham gia đánh bạc với số tiền không đủ định lượng để xử lý hình sự. Mặc khác, các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với người phụ nữ tên T (không rõ địa chỉ), khi nào xác minh làm việc được sẽ có hình thức xử lý sau.

Vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 5.203.000đ không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị can Đặng Văn T.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKS-HS, ngày 08/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố bị can Đặng Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn T khai nhận: Vào ngày 12/02/2020 bị cáo có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền. Bị cáo đánh bạc tổng cộng 02 lần. Lần thứ nhất đánh bạc với số tiền là 11.500.000đ (hình thức ghi số đề dựa vào kết quả xổ số Miền Nam); Lần thứ hai đánh bạc với số tiền 7.420.000đ (hình thức ghi số đề dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc). Đến khoảng 09 giờ 45 ngày 13/02/2020, khi bị cáo đang nhận 3.000.000 đồng tiền ghi số đề của anh Ngô Văn Đ thì bị bắt quả tang.

Các tờ tường trình, các biên bản ghi lời khai, các biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, mà hoàn toàn thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hứa Văn Biên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng mà bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T nộp phạt từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đặng Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc (ghi số đề) ăn thua bằng tiền 02 lần; lần 01 số tiền 11.500.000 đồng; lần 02 số tiền 7.420.000 đồng, bị cáo vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào ngày 12/02/2020 bị cáo Đặng Văn T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền. Bị cáo đánh bạc 02 lần. Lần thứ nhất đánh bạc với số tiền là 11.500.000đ (ghi số đề dựa vào kết quả xổ số Miền Nam); lần thứ hai đánh bạc với số tiền 7.420.000đ (ghi số đề dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc). Đến khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 13/02/2020, khi bị cáo đang nhận tiền ghi số đề 3.000.000 đồng của anh Ngô Văn Đ tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì bị bắt quả tang.

Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, pháp luật Nhà nước ta nghiêm cấm đánh bạc trái phép, ăn thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào, nhằm thu lợi bất chính. Bởi vì đánh bạc là một tệ nạn xã hội, từ việc đánh bạc có thể dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo nhận thức và biết rõ hành vi ghi, nhận các phơi đề ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do bản tính chay lười lao động, thích ngồi không hưởng thụ và hám lợi từ việc ghi nhận các phơi số đề không phải tốn nhiều công sức mà vẫn có thu nhập cao, đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng gia đình văn hóa, xã văn hóa - nông thôn mới và bài trừ các tệ nạn xã hội, trong thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, do đó cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật. Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền để xử phạt bị cáo cũng đủ sức răng đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người thân của bị cáo có công cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt.

. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền: 3.820.000 đồng (số tiền anh Đ giao cho bị cáo khi mua số đề là 3.000.000 đồng, 70.000 đồng bị cáo thu của bà L mua số đề và 750.000 đồng của bà M trúng số đề). Đây là số tiền bị cáo và các con bạc tham gia ghi số đề và thu lợi bất chính.

Đối với 02 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen, loại bàn phím (có hai số thuê bao là 0397.273.851 và 0913.703.281), đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen, loại bàn phím (có hai số thuê bao là 0919.269.318 và 0355.826.257), đã qua sử dụng. Là tài sản của bị cáo, bị cáo đã sử dụng 02 chiếc điện thoại này để giao dịch ghi số đề với các con bạc, là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu 3.820.000 đồng và 02 chiếc điện thoại của bị cáo sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, có số thuê bao 0362.350.507, đã qua sử dụng của anh Ngô Văn Đ bị thu giữ để phục vụ điều tra vụ án, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử tuyên trả cho anh Đ.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Văn T nộp 200.000 đồng án phí.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T nộp phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Về vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước:

- Tiền Việt Nam: 3.820.000 đồng (Ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng).

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen, loại bàn phím (có hai số thuê bao là 0397.273.851 và 0913.703.281), đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen, loại bàn phím (có hai số thuê bao là 0919.269.318 và 0355.826.257), đã qua sử dụng.

Tuyên trả cho anh Ngô Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, có số thuê bao 0362.350.507, đã qua sử dụng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Văn T có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ