- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị R xin ly hôn với ông Đinh Văn P"
- Tòa quyết gì? Điề u 56; 58; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ – ST Ngày: 31-7 -2020 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đông
2. Bà Phạm Kim Tuyến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t tham gia phiên tò a : Bà Trầ n Thị Kiề u Oanh – Kiể m sá t viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 71/2020/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 02 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị R - sinh năm: 1979. Có mặt
Cư trú: Kv T2, phường T, Q.Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Đinh Văn P - sinh năm: 1979. Vắng mặt
Địa chỉ: Kv T2, phường T, Q.Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị R trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trước đây, bà R và ông P do tự quen biết và tự nguyện tiến tới hôn nhân, không có tổ chức lễ cưới, nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T - Quận Thốt – thành phố Cần Thơ ngày 11/7/2011. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không phù hợp, ông P thường hay kiếm chuyện gây gổ, không lo lắng kinh tế cho gia đình. Nhiều lần, bà R bắt gặp ông P ngoại tình với người phụ nữ khác. Do không chịu đựng nổi, nên bà R và ông P đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Từ khi ly thân ông P chỉ tới lui thăm nhà rồi đi chứ không ở nhà, bà R cũng không quan tâm ông P ở đâu làm gì. Nay nhận thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà R xin giải quyết cho ly hôn.
- Về con chung: Quá trình chung sống, bà R và ông P có 02 người con chung là: Đinh Thị Huỳnh N - sinh ngày 21/5/2001 và Đinh Văn Đ – sinh ngày 03/12/2011. Hiện cháu Đ do bà R trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà R yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ, còn cháu N đã trưởng thành và có cuộc sống độc lập. Bà R yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền 5.000.000 đồng / tháng cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản ghi lời khai 09/6/2020, bị đơn ông Đinh Văn P trình bày:.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà R do quen biết và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp. Ông P đi làm ăn có nhậu nhẹt với bạn bè, bà R ghen tuông từ đó tình cảm vợ chồng sứt mẻ, không còn hạnh phúc, nên vợ chồng không gần gủi, không nói chuyện qua lại khoảng 01 năm nay. Bà R xin ly hôn, ông P không có ý kiến.
- Về con chung: Ông P và bà R có 02 con chung như bà R trình bày. Khi ly hôn, ông P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu bà R cấp dưỡng nuôi con, do ông P làm nghề kinh doanh mai kiểng thu nhập bình quân cũng khoảng 9.000.000 đồng / tháng. Còn cháu N đã trưởng thành và có cuộc sống độc lập, nên không có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai ngày 09/6/2020, cháu Đinh Văn Đ trình bày: Hiện cháu đang chung sống với mẹ là bà R, nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.
Tại phiên toà hôm nay, bà R vẫn giữ yêu cầu như trên, nhưng cho rằng hiện bà chưa có nghề nghiệp ổn định, sau khi ly hôn bà sẽ đi tìm việc làm. Vì thế, nếu giao cháu Đ cho bà nuôi thì phải buộc ông P cấp dưỡng với mức 5.000.000đ/ tháng, còn nếu giao cho ông P nuôi cháu Đ thì bà R cũng đồng ý nhưng bà không phải cấp dưỡng nuôi con.
Đạ i việ n Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Thố t Nố t tham gia phiên tò a phá t
biể u ý kiế n :Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, do có cơ sở.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ phá p luậ t và thẩ m quyề n giả i qu yế t vụ á n: Xét quan hệ hôn nhân giữ a bà Lê Thị R và ông Đinh Văn P là tự nguyện , có đăng ký kết hôn theo quy đị nh phá p luậ t. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên bà R khở i kiệ n xin ly hôn và đồng thời yêu cầu giả i qu yế t vấ n đề nuôi dưỡ ng con chung . Đây là quan hệ phá p luậ t về “Tranh chấ p ly hôn , nuôi con”. Căn cứ theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 28, điể m a khoả n 1 Điề u 35, điể m a khoả n 1 Điề u 39 của Bộ luậ t Tố tụng dân sự , vụ án thuộ c thẩ m quyề n giả i quyế t củ a Tò a á n nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụ ng: Trong quá trì nh giả i quyế t vụ á n , bị đơn vắ ng mặ t dù đã đượ c Tò a á n đã triệ u tậ p hợ p lệ
nhiều lần, do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự . Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, nên căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự , tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp.
[3] Về vấ n đề hôn nhân : Nhậ n thấ y hôn nhân giữ a bà R và ông P là tự nguyệ n, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật , nên đây là quan hệ hôn nhân hợ p phá p. Qua lời trình bày của các đương sự, cho thấ y quá trì nh chung sống giữ a bà R và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm , không có sự sẽ chia, thông cả m vớ i nhau, nên đã sống ly thân khoảng 01 năm nay mà cũng không có giải pháp nào để hàn gắn. Qúa trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệ u tậ p cá c đương sự đế n tham gia hòa giải nhưng ông P đều vắ ng mặ t, cho thấ y ông P không còn quan tâm nên anh bỏ mặc sự việc hôn nhân của mình . Tại phiên tòa hôm nay, bà R cho rằng vợ chồng không thể nào trở về chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cương quyế t xin ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận cho ly hôn là phù hợp.
[4] Về nuôi con và cấ p dưỡ ng : Bà R và ông P có 02 con chung là: Đinh Thị Huỳnh N - sinh ngày 21/5/2001 và Đinh Văn Đ – sinh ngày 03/12/2011. Hiện cháu Đ do bà R trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, cả bà R và ông P đều có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ, còn cháu N đã trưởng thành, có cuộc sống độc lập nên không yêu cầu. Bà R cho rằng nếu giao cho ông P nuôi con thì bà không phải cấp dưỡng vì không có nghề nghiệp ổn định cũng không có tài sản gì, còn nếu giao cho bà nuôi con thì ông P phải cấp dưỡng với số tiền 5.000.000 đồng mỗi tháng.
Xét thấy cháu Đ đang do bà R trưc tiếp nuôi dưỡng nhưng lại sống cạnh gia đình ông bà nội và hiện đang học tập gần nhà. Dù cháu Đ có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với mẹ, nhưng xét hoàn cảnh bà R sau ly hôn phải lo đi tìm việc làm, chỗ ở vì thế cũng không thể ổn định. Nếu giao cháu Đ cho bà R nuôi thì sẽ làm thay đổi về chỗ ở, môi trường sinh hoạt, học tập cũng thay đổi, sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự thích nghi và phát triển bình thường của cháu. Vì vậy, thiết nghĩ cần giao cháu Đ cho ông P nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, nếu sau này điều kiện hoàn cảnh thay đổi thì các đương sự cũng có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con sao cho phù hợp.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ đối với người con nhằm đảm bảo cho con có điều kiện được sống tốt. Ông P cho rằng ông có điều kiện kinh tế nên không yêu cầu bà R cấp dưỡng, hơn nữa bà R hiện cũng không có khả năng kinh tế. Do đó, không buộc bà R cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[5] Về tà i sả n chung , nợ chung: Không có ai yêu cầu nên không xem xét. Nế u sau nà y có phá t sinh tranh chấ p về tài sản chung , nợ chung thì sẽ giải quyết trong vụ án khác.
[6] Về á n phí Hôn nhân và gia đì nh sơ thẩ m: Bà Lê Thị R phải chịu án phí là 300.000 đồ ng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp.
[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự năm 2015;
Điề u 56; 58; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy đị nh về mứ c thu, miễ n, giảm, thu, nộ p, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về á n phí, lệ phí Tò a á n;
Tuyên xƣ̉ :
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữ abà Lê Thị R và ông Đinh Văn P.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng:
Bà Lê Thị R và ông Đinh Văn P có 02 người con chung là: Đinh Thị Huỳnh N - sinh ngày 21/5/2001 và Đinh Văn Đ – sinh ngày 03/12/2011. Khi ly hôn, giao cháu Đ cho ông P nuôi dưỡng. Bà R không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom , chăm só c , giáo dục con ch ung cho bà R không ai đượ c cả n trở . Sau này, ông P, bà R có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợ i í ch củ a con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về á n phí Hôn nhân và gia đì nh sơ thẩ m:
Bà Lê Thị R phải nộp 300.000 đồ ng (ba trăm ngàn đồng) nhưng đượ c khấ u trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA /2019/012187 ngày 20 tháng 5 năm 2020 tại Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự quậ n Thố t Nố t - thành phố Cầ n Thơ. Công nhậ n bà R đã nộ p xong án phí.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắ ng mặ t có quyề n khá ng cá o trong hạ n 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngà y nhận được bản án hoặc bả n á n đượ c niêm yế t theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo qui ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo qui ñònh taïi caùc Ñieàu 6, 7, 7a,7b vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo qui ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï.
TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - VKSND Q.Thốt Nốt; - Chi cục THADS Q.Thốt Nốt; - Caùc ñöông söï;... - Löu hoà sô. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |