- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xử cho chị A ly hôn anh Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Minh A được ly hôn anh Bùi Thạch Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST Ngày 28/5/2020 Về việc: Hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Vũ Thị Thúy.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy
Đại diện VKSND huyện T tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 48/2020/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐST- HNGĐ ngày 29/4/2020 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 09/2020/QĐST – HNGĐ ngày 14/5/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Minh A, sinh năm 19xx
Bị đơn: Anh Bùi Thạch Th, sinh năm 19xx
Cùng nơi cư trú: Thôn C, xã T1, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Tại phiên toà chị A vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt chị Bùi Minh A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Bùi Thạch Th tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 17/3/2014 trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi cọ. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh Bùi Thạch Th.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Bùi Yến L, sinh ngày 05/2/2014. Tại bản tự khai và đơn xin ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng nhưng do anh Th không có mặt tại nhà, không trực tiếp nuôi con chung nên chị thay đổi quan điểm xin được trực tiếp nuôi con chung. Chị cam kết đủ điều kiện nuôi con chung không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Do điều kiện chị đang đi làm công nhân, việc xin nghỉ làm rất khó khăn nên chị xin được vắng mặt tại phiên Tòa.
* Anh Th vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Tại biên bản lấy lời khai của ông Bùi Thạch T2 là bố đẻ anh Bùi Thạch Th trình bày:
Con ông là anh Bùi Thạch Th sinh sống cùng gia đình ông tại xã T1, huyện T. Vì điều kiện kinh tế khó khăn, anh Th phải đi lao động tự do tại thành phố Hồ Chí Minh, ông không biết địa chỉ cụ thể. Anh Th vẫn thường xuyên về nhà vào các dịp nghỉ, lễ tết và thường xuyên gọi điện về nhà qua zalô, điện thoại. Ông và gia đình đã nhận được các thông báo của Tòa án về việc chị A xin ly hôn anh Th và thông báo lại cho anh Th biết. Quan điểm của anh Th thông qua ông như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Th đồng ý ly hôn với chị A vì tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung, anh Th, chị A có một con chung là Bùi Yến L, sinh ngày 05/02/2014. Hiện nay, anh Th đang nhờ ông và gia đình trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh. Sau khi ly hôn quan điểm của anh Th là xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Th không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu quan điểm:
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Chị A trong quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Anh Th được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là từ bỏ quyền của mình.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật xử cho chị A ly hôn anh Th. Về con chung: Giao con chung Bùi Yến L cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về án phí, chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định, các bên có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghe phần trình bày của đương sự và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa vắng mặt nguyên đơn nhưng đã có đơn xin vắng mặt và có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Minh A và anh Bùi Thạch Th đều xác nhận xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T1 vào ngày 17/3/2014 là hôn nhân hợp pháp. Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì thấy anh Th và chị A đều xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay. Nay chị A xin ly hôn, anh Th đồng ý. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy căn cứ vào các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị A ly hôn đối với anh Th.
. Về quan hệ con chung: Chị A và anh Th đều xác nhận anh chị có một con chung là Bùi Yến L, sinh ngày 05/2/2014. Hiện nay con chung đang được anh Th gửi nhờ bố mẹ anh Th trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn cả hai đều có nguyện vọng nuôi con chung. Xét thấy, anh Th hiện nay không có nhà, không trực tiếp nuôi con chung nên không đảm bảo đủ điều kiện nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giao con chung cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
. Về án phí và quyền kháng cáo đối với Bản án: Chị A phải chịu án phí ly hôn và các bên có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35; Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Minh A được ly hôn anh Bùi Thạch Th.
2. Về con chung: Anh Bùi Thạch Th và chị Bùi Minh A có một con chung là Bùi Yến L, sinh ngày 05/02/2014. Sau khi ly hôn giao con chung cho chị Bùi Minh A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Th, chị A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con chung anh Th, chị A có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Bùi Minh A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0002137 ngày 21/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo Bản án: Vắng mặt chị A, anh Th báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND huyện T; - Chi cục Thi hành án huyện T; - UBND xã T1. - Lưu VP, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Vương |