- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Phượng D- Lương Văn Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Phượng D được ly hôn với anh Lương Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHẬN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2020 V/v: “Tranh chấp yêu cầu ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh;
2. Ông Võ Văn Liềm .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 308/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị Phượng D - sinh năm 1998 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Lương Văn Th - sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A1, xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21/11/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Thị Phượng D trình bày: Tôi và chồng tôi là anh Lương Văn Th có tìm hiểu nhau trước một thời gian thì đến năm 2019 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vào ngày 03/5/2019.
Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung và chồng tôi cũng thường xuyên đi làm vắng mặt ở địa phương. Chúng tôi đã ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là anh Lương Văn Th.
Về con chung: Quá trình chung sống tôi và anh Lương Văn Th không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lương Văn Th trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Th nhiều lần nhưng anh vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo tống đạt đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thị Phượng D được ly hôn với anh Lương Văn Th. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Thị Phượng D và anh Lương Văn Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Lương Văn Th được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tại nơi anh có hộ khẩu Th trú và cha mẹ ruột của anh là ông Lương L, bà Thị L1 cũng là người sống chung nhà, có cùng hộ khẩu Th trú với anh Th đã nhận thay anh Th các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao lại cho anh Th. Do đó, có đủ căn cứ xác định anh Th đã biết việc chị D có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn và yêu cầu nuôi con chung giữa anh và chị D nhưng anh Th không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Th là phù hợp.
Về hôn nhân: Chị Thị Phượng D và anh Lương Văn Th kết hôn với nhau vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vào ngày 03/5/2019. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của chị D và anh Th là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của chị D anh Th là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau, vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộc ra những cá tính không phù hợp. Chị D cho rằng tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung và anh Th cũng thường xuyên đi làm vắng mặt ở địa phương. Ngày 21/01/2020 và ngày 09/3/2020 Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng anh Th không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh Th. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay nhưng không thể hàn gắn được và tại phiên tòa, chị D tỏ rõ thái độ không còn yêu thương anh Th nên chị D cương quyết xin ly hôn với anh Th. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn của anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.
Đối với anh Lương Văn Th, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã trực tiếp đến nhà anh Th tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo qui định của pháp luật nhưng anh không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của anh Th. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt anh Th theo qui định của pháp luật.
Về con chung: Chị D xác định trong quá trình chung sống chị và anh Lương Văn Th không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác định chị và anh Th không có tài sản chung và không thiếu nợ ai nên chị không có yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Thị Phượng D phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005837, ngày 16/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Phượng D được ly hôn với anh Lương Văn Th.
2. Về con chung: HĐXX miễn xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Thị Phượng D phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005837, ngày 16/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 29/5/2020. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh; - VKS huyện Gò Quao; - Chi cục THA huyện Gò Quao; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn |