- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Long - Hoạt"
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/DS-PT Ngày 20 – 4 – 2020 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản. |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Vân
Ông Huỳnh Châu Thạch
- Thư ký phiên tòa: ng hạm h c Minh hong – Th ý T a án nhân dân t nh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ lý số: 180/2019/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 37/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của T a án nhân dân huyện DL bị háng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 351/2019/QĐ-PT ngày 25/12/2019; Thông báo về việc mở phiên t a xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số: 281/TB-TA ngày 16/4/2020 của T a án nhân dân t nh Lâm Đồng giữa các đ ơng sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Đình L, sinh năm: 1983.
Chị Nguyễn Thị Lan h, sinh năm:1985.
Địa ch : Số x LTK, thị trấn DL, huyện DL, t nh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đinh Văn S, sinh năm: 1974.
Địa ch : Số x PNL, tổ y, thị trấn DL, huyện DL, t nh Lâm Đồng.
(Văn bản ủy quyền ngày 05/3/2019).
- Bị đơn:
1/ Vợ chồng anh Khuất Duy Vũ H, sinh năm: 1984.
Chị Nguyễn Thị Mai Tr, sinh năm: 1987.
Địa ch : Số x thôn ĐR, xã GR, huyện DL, t nh Lâm Đồng.
2/ Bà hạm Thị Tuyết Ng, sinh năm: 1966.
Địa ch : Số x thôn ĐR, xã GR, huyện DL, t nh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Ng: Ông Lê Thanh D, sinh năm: 1967.
Địa ch : Số xA LS, ph ờng LS, thành phố BL, t nh Lâm Đồng.
(Văn bản ủy quyền ngày 11/4/2019).
- Người kháng cáo: ông Đinh Văn S - Ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
(Ông S, chị Tr có mặt; ông D xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt).
NỘI D NG V ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn vợ chồng anh Trần Đình L, Chị Nguyễn Thị Lan Ph cũng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đinh Văn S thì:
Ngày 01/02/2019, vợ chồng anh L, chị h cho bà Ng và vợ chồng anh H, chị Tr vay 1.460.000.000 đồng để làm vốn inh doanh, thỏa thuận lãi suất 6%/tháng, hạn trả vào ngày 01/4/2019. Việc vay nợ đ ợc chị Tr tự tay viết vào văn bản mẫu “Hợp đồng cho vay tiền” ghi ngày 01/02/2019, sau đó đ ợc bà Ng và vợ chồng anh H, chị Tr cùng ký, ghi họ tên và điểm ch . Sau hi ý, điểm ch bà Ng đã tự tay viết bên trên chữ ý nội dung: :“Tôi và các con vay khoản tiền này”. Nay yêu cầu bà Ng và vợ chồng anh H, chị Tr liên đ i trả nợ gốc 1.460.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn theo mức 20%/năm từ ngày 01/02/2019 đến ngày 01/4/2019, nợ lãi quá hạn nức 30%/năm tính từ ngày 02/4/2019 đến ngày 17/10/2019 v i tổng tiền lãi là 285.916.000 đồng.
Ngày 20/02/2019 vợ chồng anh L, chị h cho bà Ng và vợ chồng anh H, chị Tr vay thêm 2.000.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng, thỏa thuận lãi suất 6%/tháng, hạn trả vào ngày 30/02/2019. Việc vay nợ đ ợc chị Tr tự tay viết vào văn bản mẫu “Hợp đồng cho vay tiền” ghi ngày 20/02/2019, sau đó đ ợc bà Ng và vợ chồng anh H, chị Tr cùng ý, ghi họ tên và điểm ch . Nay yêu cầu bà Ng và vợ chồng anh H, chị Tr liên đ i trả nợ gốc 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn mức 20%/năm tính từ ngày 20/02/2019 đến ngày 28/02/2019, nợ lãi quá hạn mức 30%/năm tính từ 01/3/2019 đến 17/10/2019 v i tổng tiền lãi là 433.888.000 đồng.
Chứng cứ chứng minh gồm: Bản chính “Hợp đồng cho vay tiền” ghi ngày 01/02/2019; bản chính “Hợp đồng cho vay tiền” ghi ngày 20/02/2019.
Theo lời trình bày của bị đơn chị Nguyễn Thị Mai Tr thì:
Ngày 24/6/2018 vợ chồng chị Tr, anh H vay của vợ chồng anh L, chị h 1.100.000.000 đồng, ngày 01/02/2019 hai bên đối chiếu cùng xác định vợ chồng chị c n nợ gốc và lãi là 1.460.000.000 đồng. Vì vậy, vợ chồng chị viết và ý “Hợp đồng cho vay tiền” để vay của vợ chồng anh L, chị h 1.460.000.000 đồng, lãi suất 6%/tháng, hạn trả vào ngày 01/4/2019. Ngày 20/02/2019 vợ chồng chị viết và ý “Hợp đồng cho vay tiền” vay thêm của anh L, chị h 2 tỷ đồng v i lãi suất 6%/tháng, hạn trả vào ngày 30/02/2019. Chị Tr xác định mẹ chồng chị là bà Ng hông vay và hông sử dụng tiền vay, việc bà Ng ý tên và điểm ch trong 02 hợp đồng vay tiền là để chứng iến theo yêu cầu của anh L, thời điểm bà Ng ký tên, điểm ch hông có d ng chữ: “Tôi và các con vay khoản tiền này” ở bên trên chữ ý của bà Ng. Nay chị xác định bà Ng hông vay nên hông phải trả nợ, vợ chồng chị sẽ có trách nhiệm trả cho anh L, chị h hoản 1.100.000.000 đồng vay ngày 24/6/2018 và hoản 2 tỷ đồng vay ngày 20/02/2019 cùng tiền lãi mức 0,75%/tháng tính từ ngày vay đến nay.
Theo lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Tuyết Ng là ông Lê Thanh D thì:
Bà Ng biết các con của bà là vợ chồng anh H, chị Tr có vay của vợ chồng anh L, chị h 1.460.000.000 đồng vào ngày 01/4/2019 và 02 tỷ đồng vào ngày 20/02/2019 là đúng. Việc bà Ng ý tên, điểm ch trong hai văn bản “Hợp đồng cho vay tiền” ngày 01/02/2019 và ngày 20/02/2019 là do anh L yêu cầu ý chứng iến. Khi bà Ng ý, điểm ch hông có nội dung:“Tôi và các con vay khoản tiền này” ở bên trên chữ ý của bà Ng, bà Ng cũng hông viết thêm nội dung này nh lời hai của nguyên đơn. Thực tế bà Ng hông vay và hông sử dụng số tiền anh H, chị Tr đã vay của anh L, chị h nên bà Ng hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của anh L, chị h.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 37/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của T a án nhân dân huyện DL. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h đối v i bà hạm Thị Tuyết Ng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h đối v i anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr. Buộc anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr trả cho anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h 4.134.353.000 đồng.
3. Không chấp nhận việc anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h yêu cầu anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr trả 45.451.000 đồng nợ lãi.
Ngoài ra, T a án c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và trách nhiệm thi hành án cho các bên đ ơng sự.
Ngày 17/10/2019, ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h là ông Đinh Văn S có đơn háng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 37/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của T a án nhân dân huyện DL theo h ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h.
Tại phiên tòa hôm nay: Ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h là ông Đinh Văn S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Mai Tr hông chấp nhận háng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Lâm Đồng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý và của Hội đồng xét xử tại phiên t a là đúng pháp luật. Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu háng cáo của ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h là ông Đinh Văn S, sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 37/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của T a án nhân dân huyện DL.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Xuất phát việc nguyên đơn vợ chồng anh L, chị h cho rằng ngày 01/02/2019 có cho bị đơn vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng vay số tiền 1.460.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 6%/tháng, thời hạn trả nợ là ngày 01/4/2019. Ngày 20/02/2019, tiếp tục cho vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng vay thêm số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 6%/tháng, thời hạn trả nợ là ngày 30/02/2019. Do đến hạn trả nợ nh ng vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng hông trả nên vợ chồng anh chị yêu cầu vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng liên đ i trả số tiền nợ gốc cũng nh lãi suất trong hạn và quá hạn theo quy định của pháp luật.
Bị đơn vợ chồng anh H, chị Tr hông đồng ý v i yêu cầu của vợ chồng anh L, chị h và cho rằng ngày 24/6/2018 ch có vay của vợ chồng anh L, chị h số tiền 1.100.000.000 đồng, đến ngày 01/02/2019 hai bên đối chiếu nợ thì vợ chồng anh L, chị h cộng cả gốc và lãi thành số tiền 1.460.000.000 đồng. Ngày 20/02/2019, vợ chồng anh chị tiếp tục vay thêm số tiền 2.000.000.000 đồng. Nay vợ chồng anh chị ch đồng ý trả cho vợ chồng anh L, chị h số tiền 1.100.000.000 đồng vay ngày 24/6/2018 và số tiền 2.000.000.000 đồng vay ngày 20/02/2019 cùng v i lãi suất 0,75%/tháng tính từ ngày vay và việc vay m ợn trên hông liên quan gì đến bà Ng, bà Ng ý vào các hợp đồng cho vay tiền ch v i mục đích là để làm chứng.
Bị đơn bà Ng hông đồng ý v i yêu cầu hởi iện của vợ chồng anh L, chị Ph và cho rằng bà hông có vay các hoản tiền trên của vợ chồng anh L, chị h, bà ý vào các hợp đồng cho vay tiền ch là để làm chứng việc vay m ợn tiền giữa vợ chồng anh L, chị h v i vợ chồng anh H, chị Tr nên các bên phát sinh tranh chấp. Do đó, T a án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét háng cáo của ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h là ông Đinh Văn S thì thấy rằng:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp là “Hợp đồng cho vay tiền” đề ngày 01/02/2019 (BL 27) và “Hợp đồng cho vay tiền” đề ngày 20/02/2019 (BL 28), các hợp đồng cho vay tiền trên đều đ ợc soạn mẫu sẵn và vị trí bên cho vay tiền cũng nh vị trí bên vay tiền có hoảng cách ch đủ để ghi tên của 02 ng ời và tại phần cuối của các hợp đồng cho vay tiền trên đều có nội dung: “Bên cho vay tiền (ký và ghi rõ họ tên); Bên vay tiền (ký và ghi rõ họ tên); người làm chứng”.
Vì vậy, tại vị trí bên cho vay tiền thể hiện là vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h và bên vay tiền ch thể hiện là vợ chồng anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr nh ng tại phần cuối của các hợp đồng cho vay tiền thì bà hạm Thị Tuyết Ng lại ý và điểm ch để xác nhận việc vay tiền vào bên vay tiền mà hông ý và xác nhận thông tin vào phần ng ời làm chứng.
Nh vậy, v i việc vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng cho rằng quan hệ vay m ợn tiền trên là giữa vợ chồng anh H, chị Tr v i vợ chồng anh L, chị h chứ hông liên quan gì đến bà Ng, bà Ng ý và điểm ch vào các hợp đồng cho vay tiền trên ch v i mục đích là ng ời làm chứng là hông phù hợp v i các tài liệu chứng cứ do vợ chồng anh L, chị h giao nộp đ ợc vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng xác nhận vào bên cho vay tiền và vợ chồng anh L, chị h cũng nh ng ời đại diện theo ủy quyền của vợ chồng anh L, chị h là ông Đinh Văn S không thừa nhận bà Ng ý, điểm ch v i mục đích là để làm chứng.
Đối v i chữ viết phía trên chữ ý, điểm ch của bà Ng có nội dung: “Tôi và các con vay khoản tiền này” thì thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng anh H, chị Tr cũng nh ng ời đại diện theo ủy quyền của bà Ng là ông Lê Thanh D đều hẳng định những chữ này hông phải do bà Ng viết và hông có tại thời điểm bà Ng ý tên, điểm ch vào các hợp đồng. Tại phiên t a hôm nay, ng ời đại diện theo ủy quyền của vợ chồng anh L, chị h là ông S thừa nhận chữ viết có nội dung “Tôi và các con vay khoản tiền này” là do vợ chồng anh L viết và bà Ng ý nhận và bản thân chị Tr cũng thừa nhận hi vay tiền thì có mặt bà Ng, việc bà Ng ý vào các hợp đồng cho vay tiền trên là hoàn toàn tự nguyên, hông bị ai c ỡng ép, ép buộc, c n đối v i số tiền trên thì vợ chồng tôi là ng ời sử dụng.
Do đó, T a án cấp phúc thẩm cần căn cứ vào các tài liệu chứng cứ là 02 hợp đồng cho vay tiền trên để buộc vợ chồng chị Tr, anh H và bà Ng có trách nhiệm liên đ i trả toàn bộ số nợ vay cho vợ chồng anh L, chị h là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Đối v i việc chị Tr cho rằng hoản vay 1.460.000.000 đồng ghi trong hợp đồng ngày 01/02/2019 là do gốc, lãi của số tiền 1.100.000.000 đồng vay ngày 24/6/2018 nh ng chị Tr, anh H lại hông có chứng cứ chứng minh. Trong hi đó vợ chồng anh L, chị h cũng nh ng ời đại diện theo ủy quyền của vợ chồng anh L, chị h là ông Đinh Văn S hông thừa nhận.
Do đó, căn cứ vào “Hợp đồng cho vay tiền” đề ngày 01/02/2019 để xác định vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng vay của vợ chồng anh L, chị h số tiền 1.460.000.000 đồng vào ngày 01/02/2019 v i mức lãi suất 6%/tháng, hạn trả là ngày 01/4/2019 để buộc vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng có trách nhiệm liên đ i trả cho vợ chồng anh L, chị h nợ gốc 1.460.000.000 đồng cùng nợ lãi trong hạn theo mức 20%/năm từ ngày 01/02/2019 đến ngày 01/4/2019 là 48.666.000 đồng, nợ lãi quá hạn mức 30%/năm tính từ ngày 02/4/2019 đến ngày 17/10/2019 là 238.466.000 đồng là có căn cứ.
[4] Căn cứ vào “Hợp đồng cho vay tiền” đề ngày 01/02/2019 để xác định vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng vay của vợ chồng anh L, chị h số tiền 2.000.000.000 đồng vào ngày 20/02/2019 v i mức lãi suất 6%/tháng, hạn trả ngày 30/02/2019 (Tháng 02/2019 chỉ có 28 ngày) để buộc vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng có trách nhiệm liên đ i trả cho vợ chồng anh L, chị h số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng cùng nợ lãi trong hạn mức 20%/năm tính từ ngày 20/02/2019 đến ngày 28/02/2019 là 8.888.000 đồng, nợ lãi quá hạn mức 30%/năm tính từ 01/3/2019 đến 17/10/2019 là 378.333.000 đồng là có căn cứ.
Tổng cộng vợ chồng anh H, chị h và bà Ng có trách nhiệm liên đ i trả cho vợ chồng anh L, chị h tổng số tiền là 4.134.353.000 đồng (trong đó nợ gốc là 3.460.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/10/2019 là 674.353.000 đồng).
Do vợ chồng anh L, chị h hởi iện yêu cầu vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng có trách nhiệm liên đ i trả lãi v i số tiền 719.804.000 đồng nh ng ch đ ợc chấp nhận là 674.353.000 đồng. Nh vậy, cần bác một phần yêu cầu hởi iện của vợ chồng anh L, chị h đối v i số tiền lãi 45.451.000 đồng (719.804.000 đồng
- 674.353.000 đồng) là có căn cứ.
V i phân tích trên, T a án cấp phúc thẩm cần chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h là ông Đinh Văn S để sửa bản án sơ thẩm theo h ng nhận định trên là có căn cứ.
[5] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đ ơng sự hông phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm nh ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Cụ thể:
Buộc vợ chồng anh H, chị Tr và bà Ng phải chịu 112.134.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho vợ chồng anh L, chị h (4.134.353.000 đồng = 112.000.000 đồng + 0,1% v ợt quá 4.000.000.000 đồng).
Buộc vợ chồng anh L, chị h phải chịu 2.272.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nợ lãi hông đ ợc chấp nhận (45.451.000 đồng x 5%)
Vì các lẽ trên,
Q YẾT Đ NH:
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h là ông Đinh Văn S. Xử:
1- Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h v i bị đơn vợ chồng anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr, bà hạm Thị Tuyết Ng.
1.1- Buộc vợ chồng anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr, bà hạm Thị Tuyết Ng có trách nhiệm liên đ i trả cho vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h tổng số tiền 4.134.353.000 đồng (trong đó nợ gốc là 3.460.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/10/2019 là 674.353.000 đồng).
1.2- Không chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h về việc yêu cầu vợ chồng anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr, bà hạm Thị Tuyết Ng thanh toán số tiền lãi 45.451.000 đồng.
- Lãi suất chậm thi hành án:
“Kể từ ngày ng ời đ ợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, t ơng ứng v i thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự”.
2- Về án phí sơ thẩm:
2.1- Buộc vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h phải chịu 2.272.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nh ng đ ợc trừ vào số tiền 50.990.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009423 ngày 05/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DL. Hoàn trả cho vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h số tiền 48.718.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm c n thừa.
2.2- Buộc vợ chồng anh Khuất Duy Vũ H, chị Nguyễn Thị Mai Tr, bà hạm Thị Tuyết Ng phải chịu 112.134.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3- Về án phí phúc thẩm:
3.1- Hoàn trả cho vợ chồng anh Trần Đình L, chị Nguyễn Thị Lan h số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0014468 ngày 23/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DL (do ông Đinh Văn S nộp thay).
“Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo qui định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND t nh Lâm Đồng; - TAND H. DL; - CCTHADS H. DL; - Phòng KTNV&THA; - Các đ ơng sự; - L u AV – HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đỗ Mạnh Hùng |