vanban.org

Bản án 22/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn ông Võ Minh H, yêu cầu thanh toán tiền vốn và lãi vay, tổng số tiền là 33.372.194 đồng. / Buộc ông Võ Minh H có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn và lãi vay (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) cho Ngân hàng A là 33.372.194 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (Ngan hang - H)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:22/2020/DS – ST
Ngày:07/9/2020
“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha

Các hội thẩm nhân dân:

1./ Ông Nguyễn Văn Ngư

2./ Ông Lâm Quốc Em

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Loan Em – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Trong ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2020/TLST – DS ngày 10/6/2020; Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2020/QĐXXST – DS ngày 04 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2020/QĐST – DS ngày 26 tháng 8 năm 2020; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A.

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc, Ngân hàng A. Địa chỉ: Số 169, phố Đ, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

+Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trịnh Bích T – Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng A, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

+ Bà Trịnh Bích T ủy quyền lại cho ông Nguyễn Hải B – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng A, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (Ông B có mặt).

Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Võ Minh H, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2020 của nguyên đơn Ngân hàng A, các chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà ngày hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Hải B trình bày:

Ngân hàng A, chi nhánh phòng giao dịch huyện Châu Thành có cho ông Võ Minh H vay các khoản vay sau:

- Khoản vay thứ 1: Ngày 23/4/2014, cho ông H vay số tiền 2.000.000 đồng, mục đích cho vay làm công trình nước sạch, lãi suất 0,8%/tháng, lãi suất quá hạn là 1,04%/tháng, thời hạn cho vay 05 năm, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi). Tạm tính đến thời điểm làm đơn khởi kiện ngày 20/5/2020, đối với khoản vay này ông H còn nợ lại Ngân hàng là 2.820000.000 đồng, tính đến ngày xét xử là 2.884.931 đồng tiền vốn vay và lãi, chỉ thanh toán được số tiền lãi là 349.864 đồng.

- Khoản vay thứ 2: Ngày 12/10/2016, cho ông H vay số tiền 25.000.000 đồng, mục đích cho vay mở tiệm sửa xe gắn máy, lãi suất 0,75%/tháng, lãi suất quá hạn 0,975%/tháng, thời hạn cho vay 03 năm, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi). Tạm tính đến thời điểm làm đơn khởi kiện ngày 20/5/2020, đối với khoản vay này ông H còn nợ lại Ngân hàng là 30.487.000 đồng, tính đến thời điểm xét xử là 30.487.263 đồng tiền vốn vay và tiền lãi, chỉ trả được số tiền lãi là 146.131 đồng.

Tổng số tiền vốn vay của 02 khoản vay nêu trên ông H chưa thanh toán cho Ngân hàng A là 27.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn chưa thanh toán tạm tính đến ngày 20/5/2020 là 6.307.000 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (07/9/2020) là 6.372.194 đồng. Tổng cộng vốn và lãi tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm của 02 khoản vay nêu trên là 33.372.194 đồng.

Nay đã quá thời hạn thanh toán tiền vốn và lãi vay theo các khế ước vay vốn của Ngân hàng A, mà giữa Phòng giao dịch huyện Châu Thành với ông Võ Minh H thỏa thuận, ký kết. Nên Ngân hàng A yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ thanh toán tiền vốn và lãi vay nêu trên cho Ngân hàng để đảm bảo chính sách thu hồi nguồn vốn và thực hiện chính sách cho vay của Ngân hàng A tại địa phương.

* Bị đơn ông Võ Minh H được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng đều vắng mặt, không có lý do và không có ý kiến trả lời cho Tòa án biết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A về việc yêu cầu thanh toán tiền vốn và lãi vay nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bị đơn ông Võ Minh H. Xét thấy, ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Võ Minh H theo quy định.

Về nội dung vụ án: Ngân hàng A, chi nhánh phòng giao dịch huyện Châu Thành có cho ông Võ Minh H vay 02 khoản vay, cụ thể như:

- Khoản vay thứ 1: Ngày 23/4/2014, cho ông H vay số tiền 2.000.000 đồng, mục đích cho vay làm công trình nước sạch, lãi suất 0,8%/tháng, lãi suất quá hạn là 1,04%/tháng, thời hạn cho vay 05 năm, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi).

- Khoản vay thứ 2: Ngày 12/10/2016, cho ông H vay số tiền 25.000.000 đồng, mục đích cho vay mở tiệm sửa xe gắn máy, lãi suất 0,75%/tháng, lãi suất quá hạn 0,975%/tháng, thời hạn cho vay 03 năm, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi).

Sau khi vay số tiền 02 khoản vay nêu trên thì ông H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả vốn và lãi vay theo đúng phân kỳ như các khế ước nợ đã ký với Phòng giao dịch Ngân hàng A, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Nay đã quá thời hạn cho vay và thu hồi vốn, lãi nhưng bị đơn ông Võ Minh H không thanh toán tiền vốn và lãi theo các khế ước vay tiền của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng A khởi kiện ông H ra Tòa án để thu hồi tiền vốn vay và lãi để đảm bảo nguồn vốn vay nhằm thực hiện chính sách cho vay đối với các đối tượng chính sách xã hội theo chủ trương của Nhà nước tại địa phương. Từ đó, các bên phát sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Võ Minh H, yêu cầu thanh toán số tiền vốn vay của 02 khoản là 27.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn đến thời điểm xét xử sơ thẩm hôm nay là 6.372.194 đồng. Căn cứ các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn nộp cho Tòa án như sổ vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội, mã khách hàng 7056477570, người vay ông Võ Minh H; Giấy đề nghị vay vốn, kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 10/4/2014 (bút lục số 08 đến 11) được Tòa án công khai chứng cứ và bị đơn không có ý gì phản đối các tài liệu, chứng cứ nêu trên của nguyên đơn nộp cho Tòa án có thể hiện chữ ký, nhận số tiền vay của bị đơn ông Võ Minh H, nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử, có đủ căn cứ xác định bị đơn ông Võ Minh H có vay của Ngân hàng A, chi nhánh phòng giao dịch huyện Châu Thành số tiền vốn vay của 02 khoản nêu trên là 27.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn tính tạm tính đến ngày 20/5/2020 còn nợ lại là 6.307.000 đồng và đến ngày xét xử sơ thẩm là 6.372.194 đồng (do sau khi bị Ngân hàng khởi kiện thì ông H có đóng lãi cho Ngân hàng). Tổng số tiền vốn và lãi của 02 khoản vay nêu trên tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 33.372.194 đồng.

Do đã quá thời hạn thanh toán số tiền vốn và tiền lãi vay, bị đơn ông Võ Minh H đã vi phạm tại mục 3.2 khoản 3 về quyền và nghĩa vụ của bên vay quy định trong sổ vay vốn mà giữa hai bên thỏa thuận, ký kết nên Ngân hàng A khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Minh H là người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (Do ông H không phải là hộ nghèo, cận nghèo, không thuộc đối tượng được miễn nộp án phí, lệ phí Tòa án) tương ứng số tiền là 1.668.609 đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1,3 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng: Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1./ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn ông Võ Minh H, yêu cầu thanh toán tiền vốn và lãi vay, tổng số tiền là 33.372.194 đồng.

2./ Buộc ông Võ Minh H có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn và lãi vay (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) cho Ngân hàng A là 33.372.194 đồng (Ba mươi ba triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn một trăm chín mươi bốn đồng). Trong đó, tiền vốn vay của 02 khoản vay là 27.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (07/9/2020) là 6.372.194 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 08/9/2020 ông Võ Minh H còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định trong khế ước vay vốn tương ứng với từng khoản vay của từng kế ước vay mà giữa hai bên đã thỏa thuận, ký kết cho đến khi thi hành xong bản án.

3./ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 1.668.609 đồng.

4./ Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự, thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn ông Võ Minh H thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5./ Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ