vanban.org

Bản án 22/2020/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 24, Điều 25, Điều 27, Điều 29, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 24, Điều 25, Điều 27, Điều 29, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 688 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/DS-ST
Ngày: 31/12/2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Lâm và ông Trịnh Ngọc Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2020/QĐST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị X – sinh năm 1952

Địa chỉ: Số nhà x, ấp T.T, xã T.S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K – sinh năm 1962

Địa chỉ: Ấp T.T, xã T.S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Lê Hoàn C – sinh năm 1951

Địa chỉ: Số nhà x, ấp T.T, xã T.S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. (Ông C ủy quyền cho bà X theo văn bản đề ngày 24/10/2020)

2/ Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1962

3/ Anh Nguyễn Công T – sinh năm 1984

4/ Anh Nguyễn Xuân Th – sinh năm 1986

5/ Chị Nguyễn Thị P – sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp T.T, xã T.S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(Bà X và ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông K, bà L, anh T, anh Th và chị P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 10 năm 2020 và lời khai trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày:

Bà X và ông Lê Hoàn C là vợ chồng. Ông bà có quen biết ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị L do có cùng nơi cư trú tại ấp T.T, xã T.S, huyện Tân Phú. Vợ chồng ông bà có bán thức ăn gia súc cho ông K và bà L để chăn nuôi từ năm 2014 cho đến hết năm 2019.

Ngày 23/12/2019, ông K có tự viết và ký xác nhận chốt số tiền nợ tại nhà bà X, ông C theo văn bản không có tiêu đề có nội dung thể hiện xác nhận số tiền mua bán thức ăn gia súc (cám), vịt đẻ là 689.707.000đ (Sáu trăm tám mươi chín triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng), trong đó bao gồm tiền gốc mua bán cám, vịt giống là 636.707.000đ, tiền lãi trong năm 2019 là 53.000.000đ. Như vậy phía ông K xác nhận tiền lãi tương đương 8,32%/năm trong năm 2019 (tính tròn năm ngày 23/12/2018 đến 23/12/2019). Do thỏa thuận lãi thực tế là 10%/năm, đó là do tính chưa chính xác nên mới có 8,32%/năm, tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, ông bà chỉ tính lãi 8,32%/năm đối với tiền gốc 636.707.000đ từ ngày 01/01/2020 cho đến ngày xét xử vụ án.

Tính từ thời điểm chốt nợ thì ông K, bà L chưa trả cho ông bà được số tiền nợ gốc và nợ lãi nào, mặc dù ông bà nhiều lần liên hệ yêu cầu trả nợ.

Vì vậy, bà X khởi kiện và thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung yêu cầu ông K và bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà X và ông C số tiền là 689.707.000đ (Sáu trăm tám mươi chín triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng), trong đó bao gồm tiền gốc mua bán cám, vịt giống là 636.707.000đ, tiền lãi trong năm 2019 là 53.000.000đ, đồng thời tiếp tục tính lãi trên số tiền gốc theo quy định của pháp luật là 8,32%/năm. Ngoài ra, bà X không có yêu cầu nào khác.

Số tiền bán tài sản là thức ăn gia súc (cám) và cho vay đều là tài sản của vợ chồng bà X, ông C. Do ông bà mua bán và cho vay là đối với hai vợ chồng ông K, bà L để chăn nuôi, sử dụng chung nên ông K, bà L phải cùng có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền mua bán thức ăn gia súc (cám), vịt đẻ. Đối với anh T, anh Th và chị P có từng đến nhận cám, vịt giống về cho ông K, bà L nhưng đã thanh toán xong nên bà X không có ý kiến, yêu cầu gì đối với anh T, anh Th và chị P.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L, anh T, anh Th và chị P không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được nên không thu thập được lời khai.

Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các đương sự không có ý kiến gì khác đối với các tài liệu, chứng cứ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình, bị đơn không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bà X và ông C (do bà X là người đại diện hợp pháp) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông K, bà L, anh T, anh Th và chị P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X về việc yêu cầu ông K và bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà X và ông C số tiền là 689.707.000đ (Sáu trăm tám mươi chín triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng), trong đó bao gồm tiền gốc mua bán cám, vịt giống là 636.707.000đ, tiền lãi trong năm 2019 là 53.000.000đ, và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định của pháp luật.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Văn K có nơi cư trú tại xã T.S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng: Bà Trần Thị X khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả tiền mua bán thức ăn gia súc (cám), vịt đẻ cho bà X và ông Lê Hoàn C. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà X là người khởi kiện ông K nên xác định tư cách đương sự bà X là nguyên đơn, ông K là bị đơn. Bà L là người được nguyên đơn xác định có trách nhiệm liên đới với ông K; anh T, anh Th và chị P có từng đến nhận cám, vịt giống về cho ông K, bà L; nên xác định tư cách đương sự bà L, anh T, anh Th và chị P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tư cách đương sự được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu khởi kiện: Văn bản nhận nợ đề ngày 23/12/2019 theo bà X, ông C trình bày được ông K viết chốt nợ nhưng không xác định được thời điểm, số liệu cụ thể tại các lần nợ trên tổng số nợ (giao dịch bắt đầu từ năm 2014 đến năm 2019). Đến ngày 20/10/2020, bà X khởi kiện. Căn cứ theo Điều 429, điểm d Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng là 03 (ba) năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, tuy nhiên theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Tòa án chỉ áp dụng về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Căn cứ Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết, không xem xét về thời hiệu khởi kiện là đúng quy định pháp luật.

- Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Bà X và ông C (do bà X là người đại diện hợp pháp) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông K, bà L, anh T, anh Th và chị P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện:

Bà X khởi kiện và thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung yêu cầu ông K và bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà X và ông C số tiền là 689.707.000đ (Sáu trăm tám mươi chín triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng), trong đó bao gồm tiền gốc mua bán cám, vịt giống là 636.707.000đ, tiền lãi trong năm 2019 là 53.000.000đ, đồng thời tiếp tục tính lãi trên số tiền gốc theo quy định của pháp luật là 8,32%/năm theo văn bản không có tiêu đề có nội dung thể hiện xác nhận số tiền mua bán thức ăn gia súc (cám), vịt đẻ có đề “ngày 23/12/2019” (gọi tắt là Văn bản đề ngày 23/12/2019). Văn bản này với nội dung mua bán tài sản là có thật và không trái pháp luật, bởi lẽ:

Văn bản đề ngày 23/12/2019 là giao dịch dân sự do các bên bà X, ông C và ông K tự nguyện ký kết, có năng lực hành vi dân sự, mục đích và hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L, anh T, anh Th và chị P không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được nên không thu thập được lời khai.

Vì vậy, trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án tiến hành thu thập các tài liệu có chữ ký, chữ viết của bị đơn được lưu giữ tại Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai để tiến hành trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết tại Văn bản đề ngày 23/12/2019. Tại Kết luận giám định số 5747/C09B ngày 12/11/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định: Chữ ký mang tên Nguyễn Văn K và chữ viết trên tài liệu có nội dung được bắt đầu và kết thúc bằng những chữ “23/12/2019 tiền lời… Nguyễn Văn K” trên tài liệu cần giám định (là Văn bản đề ngày 23/12/2019; ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết mẫu so sánh mang tên Nguyễn Văn K trên 10 tài liệu (ký hiệu từ M1 đến M10) là do cùng một người ký, viết ra. Như vậy, kết luận giám định đã xác định chữ ký, chữ viết tại Văn bản đề ngày 23/12/2019 do ông K viết, ký xác nhận nợ là đúng sự thật.

Qua xác minh và tài liệu, chứng cứ thể hiện như sau:

Ông K và bà L và có cư trú ấp T.T, xã T.S từ năm 2004, không đăng ký kết hôn tại địa phương và không xác định được có đăng ký kết hôn hay không nhưng có con lớn nhất sinh năm 1986, nên xác định được là đã chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (là hôn nhân thực tế). Từ năm 2014 đến năm 2019, bà L, ông K có cùng sinh sống, làm kinh tế (chăn nuôi gia súc, gia cầm), không xác định được có nghề nghiệp nào khác, không có văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để đầu tư làm kinh tế riêng, quá trình tố tụng không đến Tòa án trình bày và không cung cấp cho Tòa án bản án hay quyết định về việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; ông K, bà L có cùng mua bán thức ăn gia súc (mua nhưng ghi nợ) của bà X, ông C cùng nhiều hộ dân ở địa phương nhưng chưa thanh toán nợ. Như vậy, mặc dù chỉ có một mình ông K ký xác nhận trên Văn bản đề ngày 23/12/2019, nhưng xác định được ông K và bà L cùng thỏa thuận hợp đồng mua bán tài sản với bà X và ông C diễn ra trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng ông K và bà L, đồng thời quá trình sinh sống tại địa phương thì ông K và bà L xây dựng kinh tế chung, sử dụng tiền vay vào mục đích chung.

Căn cứ Điều 170, Điều 214, Điều 215, Điều 217, Điều 219, Điều 233, Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 207, Điều 208, Điều 210, Điều 213, Điều 221, Điều 223, Điều 288, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 24, Điều 25, Điều 27, Điều 29, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đối với nghĩa vụ trả lại cho bà X và ông C số tiền gốc và lãi phát sinh từ việc mua bán thức ăn gia súc (cám), vịt giống theo Văn bản đề ngày 23/12/2019, là nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng, là nghĩa vụ chung về tài sản và liên đới giữa ông K, bà L. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét buộc bà L có nghĩa vụ liên đới cùng ông K trả lại tiền gốc và tiền lãi phát sinh cho bà X, ông C.

Đối với anh T, anh Th và chị P có từng đến nhà bà X, ông C nhận cám, vịt giống về cho ông K, bà L nhưng bà X trình bày đều đã thanh toán xong và bà X, ông C cũng không có ý kiến, yêu cầu gì; ngoài ra cũng không có căn cứ xem xét trách nhiệm trách nhiệm liên đới thanh toán tiền nợ gốc và trả lãi phát sinh. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ liên đới đối với anh T, anh Th và chị P.

Như vậy, văn bản không có tiêu đề có nội dung thể hiện xác nhận số tiền mua bán thức ăn gia súc (cám), vịt giống đề ngày 23/12/2019 giữa bà X, ông C và ông K là có thật về mặt nội dung, có giá trị pháp lý đối với các bên.

Về tiền gốc và tiền lãi chậm trả:

Tiền gốc mua bán cám, vịt giống là 636.707.000đ (Sáu trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng), tiền lãi trong năm 2019 của số tiền gốc là 53.000.000đ (Năm mươi ba triệu đồng).

Tiền lãi tiếp tục tính trên số tiền gốc (636.707.000đ) với mức lãi 8,32%/năm theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 357 và khoản 3 Điều 440 Bộ luật dân sự, được tính từ ngày 01/01/2020 cho đến ngày xét xử vụ án (từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020 là tròn 01 năm) như sau: 636.707.000đ x 8,32%/năm = 52.974.022đ; làm tròn là 52.974.000đ (Năm mươi hai triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).

Tổng số tiền lãi được tính là: 53.000.000đ + 52.974.000đ = 105.974.000đ (Một trăm lẻ năm triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).

Tổng số tiền gốc, lãi được tính là: 636.707.000đ + 105.974.000đ = 742.681.000đ (Bảy trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Đối với nghĩa vụ thực hiện, ông K và bà L đã vi phạm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 440, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 nên nguyên đơn bà X khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị đơn không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ trả số tiền gốc của nguyên đơn ông Anh, bà Hiên có cơ sở để chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà L, ông K phải chịu [20.000.000đ + (4% x 342.681.000đ)] = 33.707.240đ (Ba mươi ba triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn hai trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bà X, ông C là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 122, Điều 170, Điều 214, Điều 215, Điều 217, Điều 219, Điều 233, Điều 298, Điều 388, Điều 405, Điều 428, Điều 438 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 117, Điều 207, Điều 208, Điều 210, Điều 213, Điều 221, Điều 223, Điều 357, Điều 385, Điều 401, Điều 429, Điều 430, Điều 440, Điều 468 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015;

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 24, Điều 25, Điều 27, Điều 29, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị X về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L.

Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị X và ông Lê Hoàn C số tiền nợ gốc là 636.707.000đ (Sáu trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng) và tiền lãi chậm trả là 105.974.000đ (Một trăm lẻ năm triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng), tổng cộng là 742.681.000đ (Bảy trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị L phải chịu 33.707.240đ (Ba mươi ba triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn hai trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bà Trần Thị X và ông Lê Hoàn C là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ