- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án T.M.D phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo T.M.D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22 /2019/HSST Ngày: 23/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Nhật
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Văn Lục
2. Bà: Thái Thị Thanh Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị An- Thư ký tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Văn Thái- Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 23/4/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2019/HSST ngày 15/3/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21 ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: T.M.D; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: T.M.D1; Sinh ngày: 14 tháng 02 năm 1969 tại: Thị xã T.H, tỉnh Nghệ An; Quê quán: xã T.H, huyện T.C, Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm P.A, xã T.H, thị xã T.H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam,
Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: T.H.N – Sinh năm: 1936 - Nghề nghiệp: Hưu trí; Họ tên mẹ: N.T.H - Sinh năm: 1943 - Nghề nghiệp: Hưu trí; Hiện trú tại: xóm H.T, xã T.H, Thị xã T.H, Tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột: Gia đình có 05 người con, bị cáo là thứ 2 trong gia đình; Vợ: N.T.T.H – Sinh năm 1971- Nghề nghiệp: lao động tự do; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/04/2013, bị TAND Thị xã T.H, Nghệ An xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ra trại ngày 10/12/2013. Bị cáo T.M.D bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
T.M.D là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2010. Để có ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện, vào ngày 28/12/2018, T.M.D một mình đón xe khách đi từ thị xã T.H, Nghệ An đến khu vực cửa khẩu C.T thuộc địa phận huyện H.S, tỉnh Hã Tĩnh để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T.M.D tìm và mua của một người đàn ông mà T.M.D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể 01(một ) gói ma túy được đựng trong túi ni lông trong suốt bên trong là túi ni lông màu xanh có kích thước 0,5cm x 0,7cm có chứa 157 ( Một trăm năm mươi bảy ) viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp với giá 4.500.000 đồng ( bốn triệu năm trăm nghìn đồng ). Sau khi mua được ma túy, T.M.D cất giấu gói ma túy này trong túi quần phía sau bên phải mà T.M.D đang mặc rồi đón xe khách đi về Thị xã T.H. Đến khoảng 02 giờ 20 phút ngày 03/01/2019, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc T.M.D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện D đang có mặt tại xóm P.A, xã T.H, Thị xã T.H, Nghệ An; tổ công tác Công an thị xã T.H tiến hành kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía sau bên phải mà T.M.D đang mặc ra 01 (một) túi ni lông trong suốt; bên trong là túi ni lông màu xanh có kích thước 0,5cm x 0,7cm có chứa 157 (Một trăm năm mươi bảy) viên nén màu hồng, D gọi là ma túy tổng hợp. Công an Thị xã T.H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, dẫn giải T.M.D về trụ sở Công an Thị xã T.H để điều tra làm rõ.
Tại biên bản niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định của cơ quan CSĐT Công an thị xã T.H xác định: số viên nén màu hồng thu được của T.M.D có khối lượng là 16,30g (Mười sáu phẩy ba gam).
Ngày 03/01/2019, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T.H ra Quyết định số 20 v/v trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An giám định số viên nén màu hồng thu giữ của T.M.D.
Tại bản Kết luận giám định số 232/KL-PC09(MT) ngày 05/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận số viên nén màu hồng thu giữ của T.M.D gửi tới giám định là chất ma túy (Methamphelamine).
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 14/03/2019 của VKSND thị xã T.H đã truy tố: T.M.D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt: T.M.D từ 07 năm đến 08 năm tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử :
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm, được niêm phong lại theo đúng quy định, bên trong chứa 14,25 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của T.M.D (Số ma túy còn lại sau khi đã gửi đi giám định). Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T.H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T.H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T.M.D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ. Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định:
T.M.D là đối tượng nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng, T.M.D đi vào huyện H.S, tỉnh Hà Tĩnh mua một gói ma túy tổng hợp bên trong có chứa 157 viên nén màu hồng với giá 4.500.000 đồng. Sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc T.M.D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên vào khoảng 02 giờ 20 phút ngày 03/01/2019 tổ công tác Công an thị xã T.H tiến hành kiểm tra tại xóm P.A, xã T.H, Thị xã T.H, Nghệ An phát hiện bắt giữ T.M.D cùng tang vật gồm 157 viên nén màu hồng có khối lượng là 16,30 gam (mười sáu phẩy ba mươi gam) ma túy Methamphetamine. Hành vi của T.M.D đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 BLHS.
Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội, vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo là người đã từng được pháp luật cải tạo giáo dục, nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu bất chính của mình nên vẫn lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét sau khi phạm tội quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, Bố mẹ của bị cáo là những người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương cao quý, do đó cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Đối với loại tội phạm này theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét bị cáo là đối tượng nghiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra công an Thị xã T.H đã thu giữ:
- 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm, được niêm phong lại theo đúng quy định, bên trong chứa 14,25 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của T.M.D (Số ma túy còn lại sau khi đã gửi đi giám định) là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông mà T.M.D khai nhận đã bán cho D 157 viên ma túy (Methamphetamine) vào ngày 28/12/2018 tại khu vực cửa khẩu C.T thuộc huyện H.S, Tỉnh Hà Tĩnh với giá 4.500.000đ, vì không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1,2 điều 51 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo T.M.D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
xử phạt: T.M.D 06(Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (03/01/2019).
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm, được niêm phong lại theo đúng quy định, bên trong chứa 14,25 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của T.M.D (Số ma túy còn lại sau khi đã gửi đi giám định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/03/2019 có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã T.H).
3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo T.M.D phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSNDTX T.H - Công an TX T.H - VKSND tỉnh Nghệ An - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Hà Huy Nhật |