- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: NGUYỄN THU T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------- Bản án số: 22/2019/HSST Ngày 20/02/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phan Thị Nga
- Ông Nguyễn Anh Dũng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 20 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 10/2019/HSST ngày 08/01/2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/QĐ-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN THU T; sinh ngày 07 tháng 3 năm 1984 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú: Số 94 phố Đ, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: (không); trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Văn H và bà: Trần Thị Thu H; chồng là Nguyễn Anh T và có 02 con (lớn 10 tuổi, nhỏ 07 tuổi).
Danh chỉ bản số: 447 lập ngày 26/9/2018 tại CAQ H, Thành phố Hà Nội.
01 Tiền án: Ngày 12/5/2011 Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội kết án 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tiền sự: (không).
Tạm giữ: 22/9/2018
Tạm giam: 01/10/2018
(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 19h15’ ngày 21/9/2018 Tổ công tác Công an phường T trong khi làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện Nguyễn Thu T điều khiển xe máy Honda màu vàng đồng Biển số 29V1-8522 ngồi đằng sau là chị Vũ Thị L; sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã Q, huyện T, Thành phố Hà Nội, đang đỗ dưới lòng đường đối diện số nhà 58 phố T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra hành chính, T và chị L không xuất trình được giấy tờ xe nên Tổ công tác đưa về Trụ sở Công an phường T làm việc. Tại trụ sở, Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phương tiện đối với xe máy nhãn hiệu Honda màu vàng đồng biển số 29V1- 8522, phát hiện dưới tấm lót chân bằng cao su ở phần để chân phía trước của xe có 01 túi nylon màu trắng, bên ngoài dán băng dính màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận đó là ma túy đá mang đi bán để kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật.
Ngoài ra còn thu giữ của T: Một điện thoại di động Nokia 3310 màu trắng-đen kèm sim số: 0941686802 và 0967719302; một xe máy nhãn hiệu Honda màu vàng đồng biển số 29V1-8522; Số máy: H1P520M1-B 51030952 ; Số khung: LALTCJNOX 51063520.
Theo Kết luận giám định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nylon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,665 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thu T khai nhận: Khoảng 15h30’ ngày 21/9/2018, T đang ở nhà thì có một người bạn xã hội tên D (không rõ tên tuổi, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 01259866797 gọi điện hỏi mua 01 gam ma túy đá. T đồng ý và báo giá 700.000 đồng. D đồng ý và hẹn mang đến 52 phố T, quận H, Thành phố Hà Nội để giao dịch. Sau đó T đi xe ôm một mình đến khu vực phố L, quận M, Thành phố Hà Nội, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết một túi ma túy đá được đựng trong một túi nylon nhỏ màu trắng, bên ngoài dán băng dính đen với giá 500.000 đồng. Trên đường về, T gặp một người bạn xã hội tên H (không rõ tên, tuổi và địa chỉ) và mượn của H xe máy nhãn hiệu Honda màu vàng đồng, biển số 29V1-8522. Sau khi mượn xe máy của H, T cất giấu số ma túy đá vừa mua được vào dưới thảm để chân bằng cao su phía trước xe và đi đến chỗ hẹn giao dịch để bán ma túy cho D. Đúng lúc này, Vũ Thị L là bạn xã hội có gọi điện rủ đi ăn nên T vòng xe qua phố T đón L đi cùng. Tuy nhiên T không nói cho L biết về số ma túy cũng như việc đi bán ma túy. Khi cả hai đi đến lòng đường đối diện số 58 phố T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội. T dừng xe và bảo L đợi để đi mua đồ thì bị Tổ công tác kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. T khai đây là lần đầu tiên đi bán ma túy, nếu bán chót lọt sẽ được hưởng lợi 200.000 đồng. Chiếc điện thoại di động Nokia 3310 màu trắng-đen là của T dùng vào việc mua bán ma túy.
Chị Vũ Thị L khai nhận như đã nêu trên, lời khai của chị L phù hợp với lời khai của T. Chị L không biết việc T cất giấu ma túy ở dưới thảm để chân phía trước xe máy và không biết việc T mua bán ma túy.
Về đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Thu T do T khai không biết rõ căn cước và đối tượng D mua ma túy của T sử dụng số điện thoại 01259866797, Cơ quan điều tra đã rút list điện thoại nhưng không xác định được chủ thuê bao. Vì vậy Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Đối với chị Vũ Thị L do chị L khai không biết việc T cất giấu ma túy để mang đi bán nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm không đủ căn cứ để xử lý đối với chị L.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda màu vàng đồng, Biển kiểm soát: 29V1-8522 thu giữ của Nguyễn Thu T. Qua điều tra xác định chiếc xe mang tên ông Đặng Xuân L; sinh năm: 1955; hộ khẩu thường trú: Tổ 23 N, quận L, Thành phố Hà Nội. Ông L khai không sở hữu chiếc xe máy trên nên ông không có quyền định đoạt. Cơ quan điều tra đã xác minh và chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 02/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố Nguyễn Thu T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thu T khai khoảng 15h30’ ngày 21/9/2018 T đang ở nhà thì có một người bạn xã hội tên D gọi điện hỏi mua 01 gam ma túy đá. T đồng ý và báo giá 700.000 đồng và hẹn đến 52 phố T, quận H, Hà Nội để giao ma túy. Sau đó T đi đến khu vực phố L, quận M, Thành phố Hà Nội, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết một túi ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu số ma túy đá vừa mua được vào dưới thảm để chân bằng cao su phía trước xe máy và đi đến chỗ hẹn để bán ma túy cho D. Khi T đi gần đến điểm hẹn để giao ma túy cho D; T vừa dừng xe thì đã bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng. Vì vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thu T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Thu T với mức án từ 32 đến 36 tháng tù. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ ma tuý. Chiếc điện thoại di động Nokia (kèm sim) do liên quan đến hành vi phạm tội nên cho tịch thu tiêu hủy (điện thoại đã cũ, giá trị sử dụng không còn). Chiếc xe máy Honda biển số 29V1- 8522; số khung: LALTCJNOX 51063520; số máy: H1P520M1-B51030952 ra thông báo công khai trong thời hạn một năm nếu không xác định được chủ sở hữu chiếc xe máy thì cho sung quỹ Nhà nước do bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo khai báo thành khẩn. Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi: Khoảng 15h30’ ngày 21/9/2018 Nguyễn Thu T mua 0,665gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Sau khi T mua được ma túy đã cất giấu dưới thảm để chân bằng cao su phía trước xe máy. Khi T đi gần đến địa điểm đã hẹn trước để bán ma túy cho D; T vừa dừng xe thì đã bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ cùng tang vật.
Như vậy, hành vi của Nguyễn Thu T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi bán ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lợi bị cáo vẫn bán ma túy trái phép.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này là Tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khi cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian vừa có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu, tiêu huỷ 0,665 gam Methamphetamine.
+ Tịch thu, tiêu hủy điện thoại di động Nokia (kèm sim) thu giữ của bị cáo, do bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc bán ma túy (điện thoại đã cũ, giá trị sử dụng không còn).
+ Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda biển số 29V1- 8522; số khung: LALTCJNOX 51063520; số máy: H1P520M1-B51030952, bị cáo khai mượn của một người tên là H (không xác định được căn cước). Quá trình điều tra xác định xe máy không nằm trong cơ sở dữ liệu tang vật; số khung và số máy là số nguyên thủy; người đứng tên đăng ký xe máy là anh Đặng Xuân L. Theo kết quả điều tra anh L không phải là chủ sở hữu chiếc xe máy trên. Anh L không cho ai mượn chứng minh thư để đăng ký xe máy.
Vì vậy, ra thông báo công khai có thời hạn, nếu không có người nhận cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước; vì bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: NGUYỄN THU T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
3. Hình phạt:
Xử phạt: NGUYỄN THU T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2018.
4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 228 của Bộ luật Dân sự
a. Tịch thu, tiêu huỷ:
+ Một phong bì đã niêm phong, trên mép niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thu T và giám định viên Phạm Xuân T (đựng: Một túi nylon màu trắng kích thước khoảng 1,5 x 1,5 cm, bên ngoài dán băng dính màu đen, chứa 0,665gam ma túy loại Methamphetamine, đã lấy mẫu để 0,092 gam để giám định, số lượng ma túy còn lại 0,573 gam Methamphetamine);
+ Một điện thoại di động kiểu dáng Nokia 3310, màu trắng đen, số Imei 1: 35881...18475, số Imei 2: 35881...18483, máy cũ đã qua sử dụng, vỏ và màn hình máy có vết nứt vỡ và hai sim điện thoại đã cũ.
(Máy và sim điện thoại đều đã cũ, tại thời điểm bàn giao tang vật máy không mở được do đó chất lượng, hiện trạng không rõ).
b. Đối với chiếc xe máy HONDA màu vàng đồng biển số 29V1- 8522; có số khung: LALTCJNOX 51063520; số máy: H1P520M1-B51030952, giải quyết như sau: Trong thời hạn một năm kể từ ngày Chi cục thi hành án Dân sự quận H thông báo công khai mà không tìm được chủ sở hữu chiếc xe máy trên sẽ tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
(Tang vật giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H - theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 16/01/2019).
5. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội; - VKSNDQ Hoàn Kiếm; - THAQ Hoàn Kiếm; - CAQ Hoàn Kiếm; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hiền Hòa |