vanban.org

Bản án 22/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lò Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Buộc; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH NHAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số 22/2019/HSST
Ngày 7/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh.

- Các hội thẩm nhân dân:Bà Điêu Thị Châu; Ông Vừ A Chứ

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai tham gia phiên toà: Ông Lừ Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 3 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Lò Văn H, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1975, nơi ĐKHKTT: Bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá không biết chữ; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không.

Con ông Lò Văn T, sinh năm 1942 và bà La Thị Th, sinh năm 1946,

Vợ : Lò Thị V, sinh năm 1975, và 02 con, con lớn sinh năm 1998. con nhỏ sinh năm 2001, hiện đều có nơi ĐKHKTT: Bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 01 năm 2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 05/01/2019 Lò Văn H đi ra thành phố Sơn La hỏi và bàn công việc làm thuê về công trình xây dựng, khi đến thành phố S H xuống trường Cao đảng sư phạm S gặp và bàn về công việc xong, H đi ra cổng trường thì gặp một người đàn ông gạ bán ma túy cho H, H nhất trí mua 01 gói ma túy của người đó với giá 50.000 đồng, sau khi mua xong H đã trích ra một ít để sử dụng, số còn lại gói lại cất vào trong túi quần và đi vào nhà em trai là Lò Văn C, trú tại xã C, huyện M để ngủ. Sáng ngày 06/1/2019 Lò Văn H bắt xe buýt về đến bản B, xã M, huyện Q, khi xuống xe đang đi bộ thì bị tổ công tác Công an huyện Q yêu cầu kiểm tra ma túy, Lò Văn H đã lấy gói ma túy trong điếu thuốc lá ra giao nộp cho cơ quan Công an, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Lò Văn H và thu giữ toàn bộ vật chứng trong vụ án là 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng nghi là heroin, Lò Văn H khai nhận là heroin, kết luận giám định là chất ma túy, loại chất heroin có tổng khối lượng là 0,12 gam.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKSQN ngày 24/04/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố bị cáo Lò Văn H về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 12 đến 15 tháng tù.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Lò Văn H gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án, Xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai và Viện kiểm sát nhân đân huyện Quỳnh Nhai đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án.

Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Q lập vào hồi 12 giờ ngày 06 /01/2019 đối với bị cáo Lò Văn H cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa cục bột màu trắng có tổng khối lượng là 0,12 gam.

Tại bản kết luận giám định số 199/KLMT ngày 10/01/201 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận mẫu gửi giám định ký hiệu A1 trong vụ án Lò Văn H là chất ma túy, loại chất heroin, có tổng khối lượng là 0,12 gam.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, sau khi gặp bạn xong, bị cáo Lò Văn H ra khu cổng trường cao đẳng sư phạm Sơn La ngồi uống nước thì có một nam thanh niên gạ bán ma túy cho Lò Văn H, Lò Văn H đã nhất trí mua một gói heroin của người đó với giá 50.000 đồng cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân, là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 5 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng,

- Xét tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, sống ở vùng sâu, vùng xa, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản gì đáng giá, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai nhận là mua của một người không biết họ tên và địa chỉ, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q không có cơ sở xác minh làm rõ, do vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án.

Vật chứng vụ án: 0,12 gam ma túy thu giữ trong vụ án, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định không hoàn lại, số vật chứng còn lại gồm:

01 phong bì còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Lò Văn H gồm 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. xét là vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2019.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lò Văn H.

2. Vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Lò Văn H gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự

Buộc bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ