vanban.org

Bản án 22/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 15/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn P 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HS-ST
Ngày 15/03/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Tống Kim Phượng; Ông Lê Văn Tú

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Đăng Chuẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2019/HS-ST, ngày 30/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-HS ngày 01/3/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn P, sinh năm 1990 tại Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: phố 9, phường Đ, thành phố N, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn B và con bà: Nguyễn Thị Vân; vợ: Phạm Thị Thu H, con: có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 22/12/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Lê Văn M, sinh năm 1969.

Địa chỉ: đường Lương Văn T, phố 7, phường Đ, thành phố N, tỉnh N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn P là người nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/12/2018, P đi bộ ra khu vực ngã 4 Hoa Đ thuê anh Lê Văn M sinh năm 1969 trú tại đường Lương Văn T, phố 7, phường Đông , thành phố N làm nghề lái xe ôm chở sang đầu cầu N thuộc xã Y, huyện Ý , tỉnh N. Khi anh Mạnh chở P qua cầu N khoảng 300m thuộc địa phận xã Y, huyện Ý , tỉnh N thì P bảo anh M đứng chờ để P đi có việc. Anh M ngồi trên xe chờ còn P một mình đi bộ vào một ngõ bên đường gặp và mua của một người nam thanh niên không quen biết 200.000 đồng được một gói nhỏ bằng túi nilon màu trắng kích thước (1x1) cm bên trong là chất tinh thể màu trắng. Xác định đúng là ma túy đá, P cất vào túi quần bên phải và đi ra chỗ anh M bảo anh M chở về thành phố N, khi anh M chở P đến khu vực đường Lương Văn T thuộc phố 11, phường Đ, thành phố N thì gặp Tổ công tác Công an phường Đ phối hợp cùng Công an phường Đ, đang làm nhiệm vụ dừng xe kiểm tra, P đã tự giác lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi quần bên phải giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm P vật chứng, sau đó đưa P cùng vật chứng về trụ sở công an phường Đ, thành phố N lập biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú.

Tiến hành cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đặng Văn P có khối lượng là 0,340 gam ký hiệu M gửi đi giám định, xác định loại ma túy, trọng lượng chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 52/KLGĐ - PC09 - MT ngày 20/12/2018 kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3418 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục II có STT 323; nghị định số 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn trả mẫu vật M1: 0,2794 gam là ma túy, loại Methamphetamine cùng giấy gói ban đầu.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 28/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Đặng Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng viện kiểm sát truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s, điểm r, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn P từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2018.

Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ gói ban đầu thu giữ của bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn P không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N; đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Đặng Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép trong người 0,3418 gam là ma túy, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ) của bị cáo với mục đích để sử dụng cho bản thân, đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân để chịu khó lao động, học tập trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà đi vào còn đường nghiện ngập thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Khi bị yêu cầu kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua cho Công an. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm r, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy khối lượng ít để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo P khai nhận mua của một người nam thanh niên không quen biết ở xã Y, huyện Ý, tỉnh N nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, sau khi trích một phần gửi đi giám định (không hoàn trả mẫu vật); số ma túy còn lại 0,2794 gam cùng toàn bộ giấy gói ban đầu, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với anh Lê Văn M sinh năm 1969, trú tại đường Lương Văn T, phố 7, phường Đ, thành phố N làm nghề lái xe ôm là người đã chở Đặng Văn P sang khu vực xã Y, huyện Ý, tỉnh N ngày 18/12/2018, anh M không biết việc P mua và cất giữ ma túy nên không vi phạm.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, điểm r, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn P 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm P ban đầu thu giữ của bị cáo Đặng Văn P.

(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 01 năm 2019 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Văn P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quĩ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ