- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Trường G (G Mau), sinh năm 1981 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Võ Trường G (G Mau) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 22/2019/HS-ST Ngày: 28-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Hiếu;
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Dung.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Võ Trường G (G Mau), sinh năm 1981, nơi sinh: Châu Đốc – An Giang; nghề nghiệp: không; nơi cư trú: tổ 07, khóm V, phường N, thành phố D, tỉnh An Giang; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Ph (đã chết) và bà Võ Thị M, sinh năm 1955; vợ là Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1981 có 01 con tên Võ Trường Đ, sinh năm 2004.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 08/02/2018, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buột với thời gian 12 tháng, đã chấp hành xong.
Nhân thân: Ngày 10/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc, tỉnh An Giang kết án 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 27/4/2012, Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc kết án 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong, được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/12/2018 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Châu Đốc; có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Lê Minh T, sinh năm 1984.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 ngày 19/12/2018, tại quán cà phê Thiên L thuộc khu vực khóm C, phường P, tại thành phố D, tỉnh An Giang, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp cùng Đội Hình sự – Công an thành phố Châu Đốc bắt quả tang Võ Trường G (G Mau) cùng tang vật 03 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 09 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng do G cất giấu trong túi quần bên phải phía trước đang mặc. Công an tiến hành giải về trụ sở Công an phường Châu Phú B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật.
Vật chứng thu giữ: 03 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 09 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Kết luận giám định số 872/KLGT-PC09, ngày 25/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 1,4986 gam.
Ngày 25/12/2018, Cơ quan điều tra Công an Châu Đốc đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt tạm giam đối với Võ Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS-CĐ ngày 24/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Võ Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức kh e, đời sống tinh thần của con người, gây nguy hiểm đến trật tự xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 08/02/2018, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buột với thời gian 12 tháng, đã chấp hành xong.
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 10/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc, tỉnh An Giang kết án 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 27/4/2012, Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc kết án 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong, được xóa án tích.
Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng người chung trong xã hội.
Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và xử lý các vật chứng đã thu giữ trong vụ án theo luật định.
Đối với người tên T1 (không rõ họ, địa chỉ) Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Căn cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng,
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người chứng kiến ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo G khai, khoảng 21 giờ 00 ngày 18/12/2018, bị cáo điện thoại cho T1 h i mua ma túy sử dụng. T1 đồng ý và hẹn đến khu đất trống gần trại cá sấu Tuyết Tr. Đến nơi hẹn bị cáo đưa T1 số tiền 1.200.000 đồng, T1 đưa cho bị cáo 12 bọc ma túy được đựng trong bọc nylon trong suốt một đầu có rảnh khóa. Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 19/12/2018, bị cáo giấu ma túy bên trong túi quần bên phải phía trước và đi đến quán cà phê Thiên L để uống cà phê, khi vừa vào quán thì bị Công an kiểm tra và bắt quả tang G cùng tang vật. Tính đến khi bị bắt quả tang bị cáo mua ma túy của T1 được hai lần: Lần 1, cách ngày bị bắt khoảng một tuần mua ma túy của T1 với số tiền 1.000.000 đồng, T1 đưa 08 – 09 bọc ma túy được đựng trong bọc nylon trong suốt hàn kín, tại khu đất trống gần trại cá sấu Tuyết Tr đã sử dụng hết, lần 2 là ngày bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19/12/2018, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định số 872/KLGT-PC09 ngày 25/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang cùng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi cất giấu trái pháp luật chất ma túy trong người với khối lượng ma túy (Methamphetamine) là 1,4986 gam; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện, là mầm mống làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo đã nhiều lần bị kết án về hành vi liên quan đến tội phạm ma túy cụ thể: Ngày 10/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc, tỉnh An Giang kết án 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 27/4/2012, Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc kết án 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và có có 01 tiền sự: Ngày 08/02/2018, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buột với thời gian 12 tháng. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân xấu nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động; xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) phong bì ghi niêm phong vụ số 872/KLGT-PC 09 ngày 25/12/2018 bên ngoài có in dấu tròn màu đ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Ôn Văn Th; Nguyễn Kiều Th1; Nguyễn Đăng Kh, đây là vật cấm lưu hành. Xét, tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề khác: Đối với người tên T1 (không rõ họ, địa chỉ) Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Võ Trường G (G Mau) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Võ Trường G (G Mau) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam 27/12/2018 (ngày hai mươi bảy tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười tám).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) phong bì ghi niêm phong vụ số 872/KLGT-PC 09 ngày 25/12/2018, bên ngoài có in dấu tròn màu đ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Ôn Văn Th; Nguyễn Kiều Th1; Nguyễn Đăng Kh.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc ngày 22/3/2019).
Áp dụng Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Trường G (G Mau) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kiều Nga |