- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/HS-ST Ngày: 12/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Đình Thân
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư
2. Ông Trần Thế Sơn
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lương.
Đại diện VKSND huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/HSST ngày 07 tháng 03 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 03 năm 2019 đối với bị cáo:
Hoàng Văn K. Tên gọi khác: Không – Sinh ngày: 13.08.1989
Nơi sinh và Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện L, tỉnh Thái Nguyên.
Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Hoàng Văn H (Đã chết) và bà Nguyễn Thị A (Sinh năm 1963); Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Vợ 1: Nguyễn Thị L, SN: 1992 (đã ly hôn năm 2017); vợ 2: Hoàng Thị C, SN: 1987. Con: có 02 con, lớn sinh năm 2011 (con vợ cả), nhỏ sinh năm 2017 (Con vợ 2). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 29.12.2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
Người chứng kiến :Anh Dương Văn P – Sinh năm 1982, trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 25 phút ngày 29/12/2018, tại khu vực xóm Đuổm, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, Công an huyện Phú Lương phối hợp với Công an xã Động Đạt bắt quả tang Hoàng Văn K đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc trên người Hoàng Văn K 01 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen bạc, số máy: C09E-6155146, số khung: Y-155177, BKS: 20L6-0968 (BL:26-27). Tại Bản kết luận giám định số 223/KL-PC09 ngày 05/01/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ củaK khi bắt quả tang là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,258 gam (BL 40).
Tại Cơ quan điều tra,K khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 17 giờ ngày 29/12/2018,K một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen bạc, số máy: C09E-6155146, số khung: Y-155177, BKS: 20L6-0968 (K mượn của anh trai ruột là Hoàng Văn N, sinh năm: 1987, HKTT: xóm Đ, xã Y, huyện L, tỉnh Thái Nguyên) đi đến khu vực xóm Đuổm, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây K mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng của một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể). Sau khi mua được gói ma túy,K cất giấu gói ma túy vào bên trong túi quần bên trái K đang mặc và đi về nhà thì bị phát hiện bắt giữ như nêu trên (BL 64-78).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và không nhờ người bào chữa.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn K. Bản cáo trạng số 14/CT-VKSPL ngày 07 tháng 03 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Hoàng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 12 đến 18 tháng tù
Xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh tụng: Bị cáo không tranh tụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận với hành vi của mình, xin mức án khoan hồng để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ để xác định:
Hồi 17 giờ 25 phút ngày 29.12.2018, tại khu vực xóm Đuổm, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn K đã có hành vi cất giữ trong người 0,258gram Hêrôine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015
Cáo trạng của VKSND huyện Phú Lương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, …
c, Hêrôin …có khối lượng từ 0.1gam đến dưới 05gam”
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đi ngược lại với công cuộc bài trừ tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải có mức án nghiêm minh, cách ly xã hội một thời gian, để đảm bảo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu K1 bên trong có 0,235gam mẫu K1 còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu K2 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1, vỏ giấy gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.
Chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen bạc, số máy: C09E-6155146, số khung: Y-155177, BKS: 20L6-0968K sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Văn N, sinh năm: 1987, HKTT: xóm Đ, xã Y, huyện L, tỉnh Thái Nguyên. Khi cho mượn, anh N không biết việc K sử dụng xe để đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh N quản lý và sử dụng (BL 58).
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này: Nguồn gốc số ma túy K khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, lai lịch ở xóm Đuổm, xã Động Đạt, huyện Phú Lương nên chưa có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù
Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2018
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 Bộ luật TTHS 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu K1 bên trong có 0,235gam mẫu K1 còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu K2 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1, vỏ giấy gói và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2019 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 BLTTHS 2015, căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Phú Lương; VKS tỉnh; - THADS Phú Lương; - Công an Phú Lương; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - THAHS – Công an tỉnh TN - Sở Tư pháp Thái Nguyên; - Bị cáo; - UBND xã; - Lưu Hs. | tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Lưu Đình Thân |