vanban.org

Bản án 22/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàng Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phàng Thị P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bắt người phạm tội quả tang ngày 02/01/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàng Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàng Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HS-ST
Ngày 27 tháng 05 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: OÂng Lưu Quốc Chinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bành Trọng Bình

Ông Nguyễn Viết Hữu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Phong – C/v Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 04 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo:

Phàng Thị P ( Phàng Thị P1), sinh năm 1967 tại tỉnh Sơn La;

Nơi đăng ký HKTT: Bản U, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Con ông Phàng A S (S1) (đã chết) và bà Giàng Thị X (S2) (đã chết); Có chồng Hạng A D (Hàng A D1), sinh năm 1960, có 07 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02 tháng 01 năm 2019 (Bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phùng Văn H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

- Người phiên dịch: Ông Lý Văn P – SN…….

Địa chỉ: Thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

- Người làm chứng:

Anh Hạng A V – SN: 1992

Địa chỉ: Thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người chứng kiến:

Bà Hoàng Thị H – SN: 1971

Địa chỉ: Thôn 01, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phàng Thị P là người sử dụng ma túy, ngày 01/01/2019 P mua của một người phụ nữ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 03 cục chất rắn màu trắng (P khai là Heroine) với giá 100.000 đồng. Sáng ngày 02/01/2019, P lấy một ít ma túy đã mua mang ra hút. Đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 02/01/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp phát hiện bắt quả tang và thu giữ trên người P.

01 Chiếc túi màu đen, kích thước 18,5cm x 12cm, bên trong có 01 chiếc lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đen, bên trong lọ có chứa 03 cục chất rắn màu trắng kích thước khác nhau và số tiền 900.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số: 1193/GĐMT-PC09 ngày 09/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 chiếc lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đen được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1502 gam, loại Heroine, còn lại sau giám định 0,1291 gam.

Cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 16 tháng 04 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp truy tố bị cáo Phàng Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tại phiên tòa đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phàng Thị P như nội dung bản cáo trạng và đưa ra các tình tiết, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Phàng Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phàng Thị P từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1291 gam Heroine (Còn lại sau giám định); 01 chiếc lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đen (Toàn bộ bao gói đựng mẫu vật đã được niêm phong ); 01 Chiếc túi màu đen, kích thước 18,5cm x 12cm.

Tuyên tiếp tục tạm giữ số tiền 900.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp điều tra, xác minh xử lý sau.

Tại phiên tòa, ông Phùng Văn H người bào chữa cho bị cáo trình bày, nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Về hình phạt Viện kiểm sát đề nghị từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù là hơi nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo, bởi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như: thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không biết chữ, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức có phần hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc cho bị cáo mức án thấp nhất. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, đồng thời cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo không còn ý kiến đối đáp tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Ngày 02/01/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp phát hiện bắt quả tang thu giữ trên người bị cáo 03 cục chất rắn màu trắng, qua Kết luận giám định 03 cục chất rắn màu trắng là ma túy, có khối lượng: 0,1502 gam, loại Heroine. P khai mua số ma túy này vào ngày 01/01/2019 với giá 100.000 đồng, mục đích mua về để sử dụng không nhằm mục đích mua bán.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với pháp luật.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phàng Thị P đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nó không những trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn lôi kéo những người khác vào con đường nghiện ngập dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nhân thân bị cáo năm 2010 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định truy nã về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không biết chữ, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức có phần hạn chế, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và án phí đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với pháp luật cần chấp nhận.

Đối với người phụ nữ P khai đã bán ma túy cho P mà Công an thu giữ, quá trình điều tra Công an huyện Ea Súp chưa xác định được nhân thân lai lịch, Viện kiểm sát không truy tố nên không có cơ sở xử lý.

Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: 0,1291 gam Heroine (Còn lại sau giám định); 01 chiếc lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đen (Toàn bộ bao gói đựng mẫu vật đã được niêm phong); 01 Chiếc túi màu đen, kích thước 18,5cm x 12cm đây là vật chứng bị cáo sử dụng, tàng trữ trái phép. Xét vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 900.000 đồng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp chưa xác định được tiền của P dùng mua ma túy hay tiền của con trai P là Hạng A V gửi P mua thuốc đắp chân cho cháu trai là Hạng A D2. Quá trình điều tra Hạng A V đã đi khỏi nơi cư trú, không có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý nên cần tiếp tục tạm giữ số tiền này giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp điều tra, xác minh xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phàng Thị P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàng Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phàng Thị P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bắt người phạm tội quả tang ngày 02/01/2019.

Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1291 gam Heroine (Còn lại sau giám định); 01 chiếc lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đen (Toàn bộ bao gói đựng mẫu vật đã được niêm phong); 01 Chiếc túi màu đen, kích thước 18,5cm x 12cm.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 900.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp điều tra, xác minh xử lý sau.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ea Súp và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Súp ngày 18 tháng 04 năm 2019.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phàng Thị P được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ