- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt anh Phạm Văn T
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 22/2019/HNGĐ-ST Ngày: 22/8/2019 “V/v Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Xuân Lợi
2. Bà Đậu Thị Phú
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà: ông Tạ Phong Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đàm Thị T, sinh năm 1998. Địa chỉ: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/3/2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đàm Thị T trình bày: Chị và anh Phạm Văn T có quá trình tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 25 tháng 01 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến tháng 9 năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi nhau và có những lời nói xúc phạm nhau, anh T không chăm lo gia đình nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay. Hiện nay chị T thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn được ly hôn với anh T. Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh T để sớm ổn định cuộc sống.
Về quan hệ con chung: Chị T trình bày quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên là Phạm Đàm Trúc L, sinh ngày 18/4/2017. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị T muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Tại phiên tòa chị T có ý kiến thay đổi, yêu cầu anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ của vợ chồng
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, gửi giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải nhiều lần cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã Q và gia đình của anh T kết quả cho thấy: sau khi nhận được các văn bản tố tụng từ Tòa án thì chính quyền địa phương đã cử cán bộ liên lạc giao đầy đủ cho phía gia đình anh T.
Theo Biên bản xác minh ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, ông Phạm Văn T là bố ruột của anh Phạm Văn T trình bày: Khi nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án gửi đến ông đã trực tiếp báo cho con trai là anh Phạm Văn T biết việc chị T xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch nhưng do điều kiện công việc nên anh không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án được. Ông T cho biết, vợ chồng chị T và anh T đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q vào ngày 25/01/2017, sau đó vợ chồng vào TP Hồ Chí Minh sinh sống. Gia đình hai bên đã khuyên bảo vợ chồng chị T, anh T đoàn tụ nhưng nếu chị T, anh T cương quyết ly hôn thì gia đình không có ý kiến gì. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm Đàm Trúc L, sinh ngày 18/4/2017. Về tài sản chung vợ chồng anh T, chị T không có vì vợ chồng mới cưới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán cũng như của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến quá trình xét xử đều thực hiện đúng các quy định tại Điều 48, 51, 70, 71, 72, 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch không có kiến nghị đối với vụ án này. Về nội dung vụ án: áp dụng Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Văn T. Về quan hệ tình cảm: áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh T.Về quan hệ con chung: Giao con chung Phạm Đàm Trúc L, sinh ngày 18/4/2017 cho chị Đàm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản và công nợ chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tình cảm: Chị T và anh T đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 25/01/2017 vì vậy quan hệ hôn nhân hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T và anh T chung sống hạnh phúc một thời gian, tuy nhiên trong thực tế đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Chị T trình bày không còn tình cảm với anh T và mong muốn xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống của bản thân. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xét xử cho chị T được ly hôn với anh T.
Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 19/7/2019, do anh Phạm Văn T vắng mặt lần thứ nhất nên đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa lần thứ hai anh T tiếp tục vắng mặt, vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Văn T.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị Đàm Thị T và anh Phạm Văn T có một con chung là Phạm Đàm Trúc L, sinh ngày 18/4/2017. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị T có nguyện vọng mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Đàm Trúc L mặt khác cháu L còn nhỏ tuổi và đã sống chung với mẹ từ nhỏ đến nay vì vậy giao cháu Phạm Đàm Trúc L cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về phần cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, anh Phạm Văn T có công việc ổn định, có thu nhập nên buộc anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị T mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 9/2019 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung : Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Đàm Thị T trình bày giữa chị và anh Phạm Văn T không có tài sản chung, không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đàm Thị T phải nộp tiền án phí ly hôn, anh Phạm Văn T phải nộp tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Xét xử vắng mặt anh Phạm Văn T
2. Về quan hệ tình cảm:
Cho ly hôn giữa chị Đàm Thị T và anh Phạm Văn T
3. Về quan hệ con chung:
3.1. Giao con chung Phạm Đàm Trúc L, sinh ngày 18/4/2017 cho chị Đàm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
3.2. Anh Phạm Văn T có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị T mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 9/2019 cho đến khi con đã thành niên, có khả năng lao động, có tài sản tự nuôi sống bản thân.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không có, miễn xét.
5. Về án phí: Buộc chị Đàm Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, anh Phạm Văn T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ để sung công quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật. Số tiền án phí chị T phải nộp được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch theo biên lai số 0001307 ngày 18/3/2019. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/8/2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Quảng Trạch; - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch; - UBND xã Quảng Châu; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Lan Phƣơng |