vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị H - Nguyễn Bá K"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25/11/2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Lan Phƣơng

2. Bà Trần Thị Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 20/9/2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2019 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1994;

HKTT: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng;

Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá K, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; có mặt.

* Ngƣời làm chứng:

a. Bà Trần Thị G, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.

b. Ông Nguyễn Bá Kh, sinh năm 1958;

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2019, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Đoàn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Bá K đăng ký kết hôn ngày 16/10/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh K ở thôn M, xã N, huyện N. Năm 2015, anh K đi lao động tại Đài Loan. Đến tháng 9/2018, anh K về nƣớc. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ khi anh K đi lao động ở nƣớc ngoài. Do anh K không tin tƣởng chị, không gửi tiền về cho chị để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình và nuôi con mà trực tiếp chuyển tiền về cho bố mẹ chồng nhƣng cũng không nói cho chị biết. Khi về nƣớc, anh K còn nghi ngờ chị không chung thủy và có lời lẽ xúc phạm. Nhiều lần anh K viết đơn ly hôn bắt chị ký nhƣng do nghĩ thƣơng con nên chị không đồng ý. Đến cuối tháng 7/2019 anh K còn viết giấy trao trả và xuống nhà bảo bố mẹ chị dạy bảo lại chị. Do cuộc sống luôn bất hòa, vợ chồng không còn tình cảm nên đầu tháng 9/2019 chị đã đƣa con về nhà bố mẹ chị ở thôn L, xã Q, huyện N ở. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Gia đình đã động viên hòa giải, nhƣng chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ đƣợc nên chị vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bá H, sinh ngày 19/11/2014. Con chung hiện đang do chị trực tiếp nuôi dƣỡng. Khi ly hôn, chị đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Hiện tại, chị làm công nhân tại công ty TNHH May T, thu nhập khoảng hơn 10.000.000đ/tháng. Mẹ con chị đang ở nhà bố mẹ đẻ. Nhà cửa rộng rãi, thoáng mát. Bố mẹ chị cũng tạo điều kiện thuận lợi về chỗ ở cũng nhƣ hỗ trợ chị trong việc trông nom, chăm sóc con. Do vậy, chị hoàn toàn có khả năng để chăm sóc tốt cho con.

Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu anh K cung cấp cho Tòa án, anh Nguyễn Bá K trình bày thống nhất nội dung về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ chị H trình bày. Ngoài ra, anh K xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ cuối năm 2018 đến nay, nguyên nhân là do chị H sống ích kỷ, không quan tâm, không muốn gần gũi và luôn tỏ thái độ cáu gắt với anh. Do vậy, anh nghi ngờ chị H có ngƣời đàn ông khác. Cuối tháng 7/2019, anh có viết đơn trao trả bố mẹ vợ, mục đích là để dọa và mong muốn chị H thay đổi, nhƣng chị H vẫn không chịu thay đổi. Từ tháng 9/2019 chị H tự ý đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Anh và gia đình đã động viên, tìm đón nhƣng chị H không chịu quay về. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh là không muốn ly hôn vì nghĩ thƣơng con, còn chị H cƣơng quyết xin ly hôn thì đó là quyền của chị H.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung nhƣ chị H trình bày. Hiện tại con chung đang do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, anh đề nghị đƣợc nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con chung với anh. Lý do anh xin nuôi con vì hiện tại anh làm công ty TNHH thƣơng mại dịch vụ N, công việc lắp máy may công nghiệp cho các xƣởng. Thu nhập bình quân hàng tháng khoảng hơn 13.000.000đ/tháng. Anh hiện tại đang ở nhà bố mẹ đẻ anh ở thôn M, xã N, huyện N; nhà ở rộng rãi. Bố mẹ anh cũng thƣơng yêu cháu và tạo điều kiện hỗ trợ trông nom, chăm sóc con cùng anh nếu anh đƣợc nuôi con. Anh hoàn toàn đủ điều kiện để chăm sóc tốt cho con. Theo anh chị H là ngƣời ích kỷ, cố chấp, muốn phá vỡ hạnh phúc gia đình để đi theo tình nhân mới. Sau khi chị H đƣa con về nhà bố mẹ đẻ thì đã chuyển trƣờng cho con về gần nhà ông bà ngoại. Chị H còn có hành động cản trở việc anh đón con về. Chính vì vậy, theo anh chị H không đủ tƣ cách để nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Những ngƣời làm chứng:

Bà Trần Thị G là mẹ đẻ chị H trình bày xác định: Sau khi anh K đi xuất khẩu lao động về nƣớc, giữa chị H và anh K đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh K không tin tƣởng và có lời lẽ xúc phạm đến chị H. Nhiều lần anh K còn viết đơn đòi ly hôn chị H. Khoảng tháng 8/2019, anh K còn đƣa chị H và con về nhà bà và nói là chị H láo, không dạy dỗ đƣợc, trả lại cho gia đình bà để dạy dỗ lại. Chị H và anh K sống ly thân từ đó đến nay. Anh K nhiều lần đến nhà bà nhận lỗi và nhờ gia đình bà bảo chị H về đoàn tụ, nhƣng khi nói chuyện với chị H thì vẫn có lời lẽ xúc phạm với chị H và không có biểu hiện thay đổi, do vậy, chị H không đồng ý quay về. Nay chị H xin ly hôn anh K, quan điểm của bà tôn trọng ý kiến của chị H. Đối với con chung của chị H anh K là Nguyễn Bá H, quan điểm của bà là nếu chị H, anh K ly hôn, bà đề nghị Tòa án giao cháu H cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng vì cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ hơn. Gia đình bà sẽ hỗ trợ chị H về chỗ ở cũng nhƣ việc trông nom, chăm sóc cháu H.

Ông Nguyễn Bá Kh là bố đẻ anh K trình bày xác định: Sau khi anh K đi xuất khẩu lao động về nƣớc đƣợc 01 tháng thì vợ chồng chị H, anh K đã phát sinh mâu thuẫn, không nói chuyện với nhau. Nguyên nhân là do chị H thờ ơ, lãnh cảm với chồng. Hai bên gia đình đã hòa giải nhƣng không đƣợc. Thời gian gần đây mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn. Chị H còn đƣa con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Gia đình ông và anh K đã sang khuyên bảo nhiều lần nhƣng chị H không chịu quay về. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của gia đình ông không mong muốn nhƣ vậy, nhƣng chị H cƣơng quyết thì đó là quyền của chị H. Đối với con chung của chị H, anh K: Quan điểm của ông là đề nghị Tòa án giao cháu H cho anh K đƣợc nuôi dƣỡng vì cháu ở cùng gia đình ông từ bé đến nay. Gia đình ông rất thƣơng và nhớ cháu. Gia đình ông sẽ tạo điều kiện về chỗ ở cũng nhƣ hỗ trợ anh K để anh K chăm sóc tốt cho con.

- Tại biên bản xác minh với Trƣờng mầm non xã Q nơi cháu H đang học tập: Giáo viên chủ nhiệm và Hiệu trƣởng xác định trong thời gian cháu H học tập tại trƣờng luôn ngoãn ngoãn, khỏe mạnh, hòa đồng. Chị H và gia đình luôn đƣa đón đúng giờ và rất quan tâm, chăm sóc cháu H.

Tại phiên toà:

Chị H, anh K và ông Khởi giữ nguyên quan điểm nhƣ nội dung đã trình bày nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách trình bày: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thƣ ký trong quá trình thu thập chứng cứ, ngƣời tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoàn Thị H đƣợc ly hôn anh Nguyễn Bá K. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Bá H, sinh ngày 19/11/2014 cho chị Đoàn Thị H tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H tự nguyện không yêu cầu anh K phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Anh Nguyễn Bá K đƣợc quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh K thực hiện quyền này. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

nhËn ®Þnh cña tßa ¸n:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh K kết hôn với nhau ngày 16/10/2013 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N. Do vậy, hôn nhân của chị H và anh K là hợp pháp. Quá trình chung sống, đến cuối năm 2018, sau khi anh K đi lao động tại Đài Loan về nƣớc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng trong vấn đề quản lý kinh tế, không tin tƣởng nhau và có lời lẽ, hành động xúc phạm nhau. Từ tháng 9/2019, chị H đã đƣa con về nhà đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Tuy đã đƣợc hai bên gia đình hòa giải động viên đoàn tụ nhƣng không thành. Nay chị H vẫn cƣơng quyết ly hôn anh K. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị H, anh K không sống chung; không tin tƣởng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị H xử cho ly hôn với anh K.

[2] Về con chung: Chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Bá K có 01 con chung là Nguyễn Bá H, sinh ngày 19/11/2014. Hiện tại con chung đang do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị H và anh K đều có nguyện vọng đƣợc nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu bên kia cấp dƣỡng nuôi con chung. Về điều kiện nuôi dƣỡng con: Cả chị H và anh K đều có thu nhập, chỗ ở ổn định và đƣợc gia đình cam kết hỗ trợ trong việc nuôi con. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy r ng, cháu H do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay; hiện tại đang đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng, học tập tốt; thể chất và trí tuệ đều phát triển ổn định. Từ khi cháu H đƣợc sinh ra đến nay, anh K đi lao động tại Đài Loan 03 năm (từ năm 2015 đến tháng 9/2018), nên thời gian ở cùng và gần gũi với con ít hơn chị H. Anh K và gia đình anh K cho r ng chị H không xứng đáng đƣợc nuôi con vì chị H là con ngƣời ích kỷ, không nghĩ đến con, muốn ly hôn, phá vỡ hạnh phúc gia đình để tìm tình yêu mới; cho r ng điều kiện sống phía gia đình chị H không đảm bảo để cháu H phát triển tốt nhƣng đều không có chứng cứ chứng minh. Do vậy, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thấy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung Nguyễn Bá H cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng. Chị H không yêu cầu anh K phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Đây là sự tự nguyện của chị H không trái pháp luật và không trái đạo đức, xã hội nên đƣợc chấp nhận. Do vậy, anh K không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị H. Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở.

[4] Về quan hệ tài sản chung: Chị H, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoàn Thị H đƣợc ly hôn anh Nguyễn Bá K.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Bá H, sinh ngày 19/11/2014 cho chị Đoàn Thị H đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh K phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị.

Anh Nguyễn Bá K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh K thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Đoàn Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0008384, ngày 20/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ