vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố

tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thanh P - Võ Thành L"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2019
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Hưng.

2. Ông Nguyễn Đức Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện

Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm

2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

17/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh P - Sinh năm 1997 - Địa chỉ: Ấp H 2, xã H,

huyện H, tỉnh A. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Võ Thành L - Sinh năm 1990 - Địa chỉ: Ấp 4, xã Đ, huyện Đ,

tỉnh A. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2018, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Lê

Thị Thanh P trình bày: Bà và ông Võ Thành L cưới nhau vào tháng 3 năm 2018 và

có đăng ký kết hôn ngày 21/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh A. Vợ

chồng sống chung hạnh phúc đến tháng 5/2018 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,

nguyên nhân do ông L thường xuyên chơi cờ bạc, không lo chăm sóc gia đình nên vợ

chồng thường xuyên cãi vã. Bà và ông L ly thân từ tháng 6/2018 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Võ Thành L.

Về nuôi con chung: Bà P và ông L không có con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Võ

Thành L vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Lê Thị Thanh P khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Võ

Thành L có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại ấp 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh A, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Ông Võ Thành L được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của

Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án số 220/TB-TLVA ngày 06/12/2018, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 10/TB-TA ngày 10/01/2019 nhưng ông L không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông L không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh P vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Võ

Thành L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà P và ông L theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Bà P và ông L chung sống có đăng ký kết hôn ngày

21/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử nhận định: Bà P và ông L

đều không cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình về nguyên nhân mâu thuẫn, tuy nhiên xét vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do ông L thường xuyên cờ bạc, không chăm sóc gia đình nên thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn giữa bà P và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tự mỗi người lo cho bản thân, quan hệ vợ chồng chấm dứt từ khi ly thân tháng 6/2018 đến nay. Do đó, việc bà P yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về nuôi con chung: Bà Lê Thị Thanh P và ông Võ Thành L không có

con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà P trình bày không có tài sản

chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này phát sinh

tranh chấp, sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội, xét thấy: Bà P là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm

đã nộp. Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố

tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh P được ly hôn với ông Võ Thành L.

2. Về nuôi con chung: Bà P và ông L không có con chung.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Thanh P phải chịu 300.000 đồng (ba

trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)

tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004293 ngày

06/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà P đã nộp đủ tiền án

phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản

án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ