- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “T
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2018/HSST Ngày 23/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bẩy.
2. Bà Tô Thị Bích Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 3 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2018/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 12/3/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L - Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 21/6/1983, tại thị xã Đ, tỉnh Q. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu Y 1, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Q. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 8/12 - Nghề nghiệp: không. Họ và tên bố: Nguyễn Văn B - Sinh năm: 1954. Họ và tên mẹ: Lê Thị T – Sinh năm: 1959. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai. Vợ: Bùi Thị Thanh M – Sinh năm 1997. Con: Có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ
y 09/01/2018 N
- Công an thị xã Đông Triều,
- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, khoảng 15 giờ ngày 09/01/2018, Nguyễn Văn L thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi đến khu vực bờ đê thuộc xã K, huyện K, tỉnh H gặp và mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 (hai) gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, L cầm 01 (một) gói heroine trên tay trái và cất giấu 01 (một) gói heroine vào túi quần L đang mặc; Rồi L tiếp tục thuê xe ôm chở quay về khu vực Y 3, phường Đ, thị xã Đ. Khi L vừa xuống xe để đi bộ mục đích tìm mua xi lanh sử dụng ma túy, thì bị Công an thị xã Đông Triều kiểm tra, phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái và trong túi quần bên phải của L đang mặc 02 (hai) gói giấy bạc bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của L 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Masstel.
Tại bản Kết luận giám định số 110/GĐMT ngày 11/01/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L là ma túy, loại Heroine, có tổng trọng lượng là 0,155g (không phẩy một năm năm gam).
(Heroine nằm trong danh mục I, STT: 20 Nghị định 82/NĐ – CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.)
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 26/CT – VKS - ĐT ngày 28/02/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 - điều 249 – Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cất giấu ma túy để sử dụng, bị bắt quả tang, kết quả giám định là Heroine có trọng lượng 0,155g (không phẩy một năm năm gam). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 - Điều 249; Điểm s – khoản 1 – Điều 51 - Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 15
18
. Áp dụng khoản 1 – Điều 46, điểm c - khoản 1 - điều 47 – Bộ luật hình sự 2015; khoản 1, điểm a - khoản 2, điểm a khoản 3 - Điều 106 – Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tịch thu tiêu hủy 0,04g (không phẩy không bốn gam) ma túy, loại heroin hoàn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì niêm phong số 110/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại hiệu Masstel màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Nguyễn Văn L thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L có lời khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo thể hiện:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/01/2018, khu Y 3, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Q, Nguyễn Văn L đã
02 (hai) gói ma túy, loại Heroine, có tổng trọng lượng 0,155g (không phẩy một năm năm gam), mục đích
.
và Trần Việt H với
chứng
.
Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp kết quả điều tra; Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận bản luận tội của Kiểm sát viên là đúng, không tranh luận gì. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị
phạm tội: "T
" quy định tại điểm c khoản 1 - Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015.
Điều 249 - Bộ luật hình sự quy định:
..."1.
trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.”
Về khách thể: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạ
là khách thể quan trọng luôn được pháp luật đề cao và bảo vệ.
Về chủ thể, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm pháp luật.
Về mặt chủ quan, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về mặt khách quan, bị cáo đã cất giấu trái phép 0,155g (không phẩy một năm năm gam) chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
,
làm suy giảm sức khỏe, đặc biệt làm tổn hại hệ thần kinh,
lan
HIV/AIDS, và là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm, trong khi N
, nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy thì hành vi phạm tội của bị cáo đã tiếp tay cho tội phạm về ma túy, gây mất trật tự xã hội. Nên xử phạt nghiêm, phải
h ly
xã hội
, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình
thành khẩn,
i s -
1 - Đ
51 -
2015, giảm một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật mà cải tạo cho tốt.
Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
: Cơ quan điều tra hiện tạm giữ 01 (một) phong bì niêm phong số 110/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy; 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu đen là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Đối tượng bán ma túy cho bị cáo và người xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “T
”.
Áp dụng: Điểm c - Khoản 1 - Điều 249; Điểm s – khoản 1 – Điều 51 – Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn L 15 (mười lăm) tháng
t
09/01/2018.
Áp dụng: - Điểm a - khoản 1 - Điều 46; Điểm a - khoản 1 - Điều 47 – Bộ luật hình sự 2015;
- Điểm a - khoản 2; Điểm a – khoản 3 - Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Trả lại Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại Masstel màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 110/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 45 ngày 05/3/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều)
*Về án phí: - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Điều 138 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Công an thị xã Đông Triều; - Cơ quan THAHS thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - STP tỉnh Quảng Ninh; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Nguyễn Văn Giới |