- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán, tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trình Kỳ B và Lâm Thảo D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN N DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2018/HS-ST Ngày 09/5/2018 |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan
Các Hội thẩm N dân:
Bà Nguyễn Thị Bích vân
Ông Huỳnh Anh Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát N dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa:
Ông Trần Văn Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án N dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Trịnh Kỳ B, tên gọi khác: Kỳ; sinh ngày 09/5/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường B, Phường B, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Tô H và bà Từ Xảo T, có vợ và 02 con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2017; có mặt;
2. Lâm Thảo D; sinh ngày 25/7/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường P, Phường B, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm móng; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn C và bà Thới Thị T, có chồng và 02 con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2017; có mặt;
3. Cổ Thành N; sinh ngày 01/4/1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Phường Đ, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: đường P, Phường MS, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cổ Phi L và bà Tăng Ngọc T; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2017; có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1990; địa chỉ: đường H, phường B, Quận MM, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
2. Ông Nghê Mạnh L, sinh năm 1949; địa chỉ: đường T, Phường C, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 22/8/2017, tại trước nhà số 155A đường Lạc Long Quân, Phường 1, Quận 11 Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 11 phát hiện Nguyễn Văn M điều khiển xe biển số: 63B8 – 574.84 chở Cổ Thành N có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện Cổ Thành N đang tàng trữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trong túi áo khoác bên trái phía trước nên giao cho Công an Phường 1, Quận 11 lập biên bản phạm tội quả tang chuyển Công an Quận 11 xử lý.
Cổ Thành N khai nhận đã mua số ma túy trên từ vợ chồng Lâm Thảo D, Trịnh Kỳ B nhà tại số: 80/129 đường số 41 Phú Định, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Trịnh Kỳ B và Lâm Thảo D thu giữ: 02 nỏ (loại dùng để sử dụng ma túy), 02 cân điện tử, 02 kéo kim loại, 01 quẹt gas, 01 bình gas mini, 01 ống thủy tinh có đầu phiểu tròn, 01 kẹp gắp, 20 vỏ bao nylon, 13,5 viên nén tròn màu vàng, 05 gói nylon chứa tinh thể không màu, 04 viên nén hình tròn màu xanh, 01 điện thoại Iphone màu đen đỏ của Trịnh Kỳ B, 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu trắng đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, 02 Ipad, số tiền 250.000 đồng, 01 dao tự chế, 01 xe máy hiệu Vision biển số 59K2- 127.52, 01 xe máy hiệu Vespa biển số 59L2- 206.93; thu giữ của Lâm Thảo D: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng; thu giữ tại phòng của Trịnh Lệ K là chị của Trịnh Kỳ B: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, 01 bóp màu hồng bên trong có 07 gói nylon chứa tinh thể không màu, 10 vỏ bao nylon, 01 nỏ, 01 bình gas mini, 01 cân điện tử, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen nên mời về Công an Quận 11 làm rõ.
Theo kết quả giám định số: 1435/KLGĐ-H ngày 15/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:
Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài được in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trịnh Lệ K và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6335 gr, loại Methamphetamine.
Gói 2: Tinh thể không màu trong 07 gói nylon được niêm phong bên ngoài được in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trịnh Lệ K và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,9351 gr, loại Methamphetamine.
Gói 3: được niêm phong bên ngoài được in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trịnh Kỳ B và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 gửi đến giám định bên trong có:
- Tinh thể không màu trong 04 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,7566 gr, loại Methamphetamine.
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon có trọng lượng 3,4362 gr, không tìm thấy ma túy.
Gói 4: 13,5 viên nén hình tròn màu vàng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trịnh Kỳ B và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 gửi đến giám định có khối lượng 1,3995 gr, không tìm thấy ma túy.
Gói 5: 04 viên nén hình tròn và bột màu xanh trong gói nylon được niêm phong bên ngoài có được in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trịnh Kỳ B và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 gửi đến giám định có khối lượng 1,5287 gr, không tìm thấy ma túy.
Gói 6: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Cổ Thành N và hình dấu Công an Phường 1, Quận 11 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3061 gr, loại Methamphetamine.
Ngày 23/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công Quận 11 đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trịnh Kỳ B, Lâm Thảo D.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công Quận 11, Cổ Thành N khai nhận: Vào lúc 14 giờ 30 ngày 22/8/2017 Nguyễn Văn M điện thoại hẹn N qua nhà xăm hình cho Minh, N đồng ý. Trong lúc chuẩn bị xăm thì có một người bạn của Minh (không rõ tên, lai lịch) đến nói chuyện và nhờ N mua ma túy về sử dụng. N đồng ý và nhận số tiền 900.000 đồng từ người này. Trước khi đi, N gọi điện thoại theo số 0902983822 của Trịnh Kỳ B nhưng D nghe máy, N hỏi D mua 1 gói ma túy (tương đương 1 góc 4) với giá là 900.000 đồng. D đồng ý và yêu cầu N đến nhà lấy. N nhờ Minh chở giúp qua Quận 8 để N lấy ma túy. Minh đồng ý và điều khiển xe biển số: 63B8 – 574.84 chở N đi. Khi đến đầu hẻm số 80 đường số 41 Phú Định, Phường 16, Quận 8 thì Minh dừng xe đứng chờ. N xuống xe đi bộ vào nhà thì gặp D và giao cho D số tiền 900.000 đồng, được D chỉ 01 gói ma túy để sẵn trên bàn bếp. N lấy gói ma túy và ra về. Khi Minh chở N đến trước số 155A Lạc Long Quân, phường 1, Quận 11 thì bị Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Ngoài ra N còn khai nhận: Vào cuối tháng 7/2017 và đầu tháng 8/2017, N đã 02 lần xăm hình trên tay cho B với tiền công mỗi lần là 200.000 đồng nhưng B đưa ma túy để N sử dụng. Trước ngày bị bắt khoảng nữa tháng thì N có gọi điện thoại cho B hỏi mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng và được B hẹn giao ma túy tại khu vực Cầu Sắt, Quận 8. Ngày 22/8/2017 N gọi điện thoại hỏi mua ma túy của B nhưng D nghe máy và đã mua 01 gói ma túy với giá 900.000 đồng của B, D định để về sử dụng thì bị Công an Quận 11 bắt giữ.
Trịnh Kỳ B và Lâm Thảo D khai nhận: B là thợ xăm, qua mối quan hệ khách hàng nên biết tên Tuấn Anh (không rõ lai lịch) là người mua bán trái phép chất ma túy, B mua ma túy của Tuấn Anh sau đó về sử dụng và bán lại cho người nghiện. Vào ngày 20/8/2017, B gọi điện thoại hỏi mua của Tuấn Anh 01 hộp 5 ma túy với số tiền là 3.200.000 đồng. Khi giao ma túy, Tuấn Anh giao thêm cho B 13,5 viên nén hình tròn màu vàng, 04 viên nén hình tròn màu xanh và B phân ra thành nhiều gói nhỏ để bán và sử dụng dần. Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 22/8/2017, N gọi điện thoại cho B nhưng Lâm Thảo D nghe máy. N hỏi mua 01 gói ma túy với số tiền là 900.000 đồng. D nói cho B biết. B đồng ý bán và B nói D yêu cầu N đến nhà để nhận ma túy thì N đồng ý. Khoảng 30 phút sau, N qua nhà B thì gặp D và giao số tiền 900.000 đồng cho D. D chỉ 01 gói ma túy đang để trên bàn bếp do B chuẩn bị sẵn. N lấy ma túy cất vào trong người rồi ra về đến trước nhà số 155A đường Lạc Long Quân, Phường 1, Quận 11 thì bị Công an Quận 11 kiểm tra bắt giữ. B còn khai nhận, vào khoảng cuối tháng 7/2017 và đầu tháng 8/2017 B đã 02 lần đến nhà N xăm hình lên tay, tiền công mỗi lần xăm khoảng 200.000 đồng nhưng B không trả tiền cho N mà cho N sử dụng để trừ vào tiền công xăm. Trước ngày bị bắt khoảng nữa tháng, B đã bán cho N 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng địa điểm giao dịch tại khu vực Cầu Sắt, Quận 8. Vào chiều ngày 22/8/2017, B đem 01 cái bóp màu hồng bên trong có 08 gói nylon ma túy vào phòng chị B tên là Trịnh Lệ K và rủ chị Khanh sử dụng. Khanh đồng ý, B lấy 01 gói ma túy để cả 02 cùng sử dụng, số còn lại để trên bàn cùng với cái bóp bên trong còn 07 gói nylon ma túy khi kiểm tra Công an Quận 11 đã thu giữ. Ngoài ra, khi xăm cho khách B thường cho khách sử dụng ma túy trước khi xăm nhằm để giảm đau, sau khi xăm thì tính tiền luôn tiền ma túy vào tiền công để cho khách phải thanh toán lại cho B. Ngày 22/8/2017, Lâm Thảo D phụ giúp Trịnh Kỳ B bán trái phép cho Cổ Thành N 01 gói ma túy với giá là 900.000 đồng thì bị bắt giữ như đã nêu trên.
Nguyễn Văn M khai nhận: Vào trưa ngày 22/8/2017 Minh gọi điện thoại rủ N qua nhà để xăm và N đồng ý. Do N không xe nên Minh điều khiển xe biển số 63B8 – 574.84 qua nhà đón N qua nhà Minh. Tại nhà Minh, thì có một người bạn Minh quen ngoài xã hội (không rõ họ tên và lai lịch) đến chơi và nói chuyện với N. Sau đó, N nhờ Minh chở qua Quận 8 lấy đồ. Thấy N không có xe nên Minh đồng ý. Khi Minh chở N quay về trước nhà số 155A Lạc Long Quân, phường 1, Quận 11 bị Công an Quận 11 kiểm tra phát hiện N cất giấu 01 gói ma tuy trong túi áo khoác bên ngoài nên bị mời về Công an Phường 1, Quận 11 làm việc. Do có sự mâu thuẫn từ lời khai của Minh và N nên Cơ quan điều Cảnh sát điều tra tiến hành cho Minh đối chất với N để làm rõ nhưng không có kết quả.
Trịnh Lệ K khai nhận: Vào chiều ngày 22/8/2017, Trịnh Lệ K đang ở trong phòng tại nhà tại số 80/129 đường số 41 Phú Định, Phường 16, Quận 8 thì B vào phòng rủ Khanh sử dụng ma túy. Khanh đồng ý và B lấy trong bóp ra 01 gói ma túy rồi cả hai cùng sử dụng. Sau đó B đi ra ngoài và để số ma túy sử dụng còn lại trên bàn cùng cái bóp màu hồng bên trong có 08 gói ma túy nên bị Công an Quận 11 thu giữ. Ngoài ra, khi kiểm tra điện thoại của Khanh Công an Quận 11 phát hiện có nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy. Khanh khai trước đó B đã mượn điện thoại của Khanh để sử dụng, B sử dụng liên lạc nhắn tin để mua bán trái phép chất ma túy Khanh không biết. Do đó không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với Trịnh Lê Khanh về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với Nguyễn Văn M, không thừa nhận việc giao tiền để cho N mua ma túy. Ngoài lời khai của N không còn chứng cứ nào khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Minh về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Riêng tên Tuấn Anh người bán trái phép chất ma túy cho Trịnh Kỳ B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiếp tục điều làm rõ, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 22/CTr-VKS ngày 09 tháng 02 năm 2018, Viện kiểm sát N dân Quận 11 truy tố bị cáo Trịnh Kỳ B tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo Lâm Thảo D tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo Cổ Thành N tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999
Tại phiên tòa, các bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát N dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trịnh Kỳ B từ 07 đến 08 năm tù, phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; bị cáo Lâm Thảo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; bị cáo Cổ Thành N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 06 gói niêm phong ghi vụ số 1435, 03 nỏ, 03 cân điện tử, 02 bình gas mini, 02 kéo bằng kim loại, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas, 01 dao tự chế, 30 vỏ bao nylon, 01 ống thủy tinh đầu phểu tròn, một biển số 59 L2-206.93, 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu trắng đen đã bị hư, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã bị hư, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen đã bị hư; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đỏ và số tiền 250.000 đồng; trả lại cho bị cáo N: 01 quẹt gas, 01 áo khoác và số tiền 340.000 đồng; trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đỏ; trả lại cho bị cáo B: 01 cái bóp màu hồng, 02 Ipad; trả lại cho ông Nghê Mạnh L một xe máy hiệu Vespa.
Ông Nghê Mạnh L trình bày: Xe môtô hiệu Vespa có số máy: M661M – 20660 và số khung: RP8M66100AV022625 trước đây được cấp biển số: 54H3 – 8454 do ông mua lại của ông Heng Mi. Sau đó, ông L đăng ký mới được cấp biển số 59K1- 901.73. Ngày 22/02/2016 ông L để tại nhà số 36 Nguyễn Phạm Tuân, Phường 9, Quận 6 thì bị mất trộm, ông có trình báo Công an về việc này. Nay ông xin nhận lại chiếc xe trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 15 giờ ngày 22/8/2017, bị cáo Cổ Thành N đã đến nhà số 80/129 đường số 41 Phú Định, Phường 16, Quận 8 mua ma túy của Trịnh Kỳ B về sử dụng. Tại đây, do B đang bận việc nên nhờ Lâm Thảo D (chung sống với B như vợ chồng) giao ma túy cho N và thu số tiền 900.000 đồng. Trên đường về, tại trước nhà số 155A đường Lạc Long Quân, Phường 1, Quận 11, bị cáo Cổ Thành N bị Công an Quận 11 bắt quả tang đang cất giữ trái phép trọng lượng 1,3061gr Methamphetamine, ở thể rắn. Qua khám xét, thu giữ tổng trọng lượng chất ma túy ở thể rắn Trịnh Kỳ B tàng trữ để mua bán trái phép là 12,6313gr Methamphetamine. Ngoài ra, bị cáo B đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo N nhiều lần.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp, mục đích là nhằm hưởng lợi bất chính.
Hành vi của bị cáo Trịnh Kỳ B đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; hành vi của bị cáo Lâm Thảo D đã vào phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” một lần với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo B, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; hành vi của bị cáo Cổ Thành N đã đủ đấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, khung hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn; do đó, áp dụng các nội dung có lợi cho bị cáo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo N.
Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; bị cáo D có con nhỏ nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
- 06 gói niêm phong ghi số 1435 là ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu và tiêu hủy;
- Thu giữ của bị cáo N: 01 máy điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; 01 áo khoác, 01 quẹt gas và 340.000 đồng là tài sản của cá N của bị cáo N không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo;
- Thu giữ của bị cáo D 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đỏ là tài sản cá N của D, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo D.
- Thu giữ của bị cáo B:
+ 01 cái bóp màu hồng là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo ; 03 nỏ, 03 cân điện tử (không còn giá trị sử dụng), 02 bình gas mini, 02 kéo bằng kim loại, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas, 30 vỏ bao nylon, 01 ống thủy tinh đầu phểu tròn, 01 dao tự chế tất cả những vật dụng trên dùng để phân chia và sử dụng ma túy nên tịch thu và tiêu hủy;
+ Một điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đỏ bị cáo B dùng để liên lạc bán ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
+ 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu trắng đen đã bị hư, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã bị hư, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen đã bị hư, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy; 02 Ipad sử dụng cá N không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
+ Sồ tiền 250.000 đồng là tiền bán ma túy còn lại nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
+ 01 xe máy hiệu Vision biển số 59K2 - 127.52. Qua xác minh thì xe do ông Trịnh Tô Há ngụ: 96/7 Bình Tiên Phường 3, Quận 6 đứng tên chủ sở hữu. Ông Há cho biết, vào ngày 22/8/2017 Trịnh Kỳ B (con ông Há) đến nhà mượn xe đi công việc, ông Há không biết B mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả chiếc xe máy trên cho ông Trịnh Tô Há ;
+ 01 xe môtô hiệu Vespa biển số 59L2 - 206.93. Trịnh Kỳ B khai xe trên do tên Tuấn Anh cho mượn sử dụng. Qua xác minh được biết biển số: 59L2 - 206.93 được cấp cho chiếc xe môtô hiệu Air Blade có số khung: RLHJF4617EZ161989 và số máy: JF46E6087318 do ông Thái Kim Lợi ngụ 1225/94 đường Phạm Thế Hiển, Phường 5, Quận 8 là chủ sở hữu và hiện nay ông Lợi vẫn còn đang sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 trưng cầu giám định số máy: M661M – 20660, số khung: RP8M66100AV022625 của chiếc xe gắn biển số: 59L2 - 206.93 để tìm chủ sở hữu. Theo kết luận giám định số: 13961/KL-GĐ-X(Đ6) ngày 11 tháng 10 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì số khung, số máy của chiếc xe trên không thay đổi. Theo kết quả xác minh xe có số máy: M661M – 20660 và số khung: RP8M66100AV022625 được cấp biển số: 54H3 – 8454 do ông Heng Mi ngụ tại: 79/5 Huỳnh Mẫn Đạt, Phường 7, Quận 5 là chủ sở hữu. Ông Heng Mi đã bán xe máy trên cho ông Nghê Mạnh L ngụ tại 36 Nguyễn Phạm Tuân, Phường 9, Quận 6. Sau đó, ông L đăng ký mới được cấp biển số 59K1- 901.73. Ngày 22/02/2016 ông L để tại nhà số 36 Nguyễn Phạm Tuân, Phường 9, Quận 6 thì bị mất trộm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 thông báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 6 tiếp nhận xử lý chiếc xe trên theo quy định. Ngày 11/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển chiếc xe trên cùng biển số giả cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 6 xử lý theo thẩm quyền. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 6 từ chối tiếp nhận vật chứng nêu trên. Xét thấy chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của ông L nên trả lại cho ông L; riêng biển số giả thì tịch thu và tiêu hủy.
- Thu giữ của Nguyễn Văn M 01 xe môtô hiệu SH Mode biển số: 63B8 - 574.84. Qua xác minh xe do bà Võ Thị Diễm Trang, ngụ: ấp Tân Hương, xã Tân Thới, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang là chủ sở hữu. Vào sáng ngày 22/8/2017, bà Trang cho Minh mượn đi công việc. Minh sử dụng xe chở N đi mua ma túy thì bị bắt. Do bà Trang không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe trên cho bà Võ Thị Diễm Trang.
- Thu giữ của Trịnh Lệ K: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng là tài sản của bà Khanh, không liên đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã lập biên trả lại cho bà Khanh.
2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 45; điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Trịnh Kỳ B;
Căn cứ vào Điều 45; khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Lâm Thảo D;
Căn cứ vào Điều 45; khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Cổ Thành N;
Tuyên bố các bị cáo Trình Kỳ B và Lâm Thảo D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Cổ Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Kỳ B 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2017.
Xử phạt bị cáo Lâm Thảo D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2017.
Xử phạt bị cáo Cổ Thành N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2017.
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- Tịch thu và tiêu hủy: 06 gói niêm phong ghi vụ số 1435, 03 nỏ, 03 cân điện tử, 02 bình gas mini, 02 kéo bằng kim loại, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas, 01 dao tự chế, 30 vỏ bao nylon, 01 ổng thủy tinh đầu phểu tròn, một biển số 59 L2-206.93, 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu trắng đen (đã bị hư), 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (đã bị hư), 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen (đã bị hư);
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đỏ và số tiền 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng);
- Trả lại cho bị cáo N: 01 quẹt gas, 01 áo khoác và số tiền 340.000 đồng (ba trăm bốn mươi nghìn đồng);
- Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đỏ;
- Trả lại cho bị cáo B: 01 cái bóp màu hồng, 02 Ipad ;
- Trả lại cho ông Nghê Mạnh L một xe máy hiệu Vespa;
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 215/LNK và Phiếu nhập kho vật chứng cùng ngày 30/8/2017).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Các bị cáo, ông Nghê Mạnh L có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn M vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Công an TP.HCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ánh Loan |