vanban.org

Bản án 22/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 19/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/01/2018. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HS - ST
Ngày: 19 - 4 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh, ông Hoàng Văn Mùi.

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại Nhà văn hóa khu dân cư N, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn V, sinh năm 1990 tại phường S, thị xã C.

Nơi cư trú: Số nhà 28, đường N, khu dân cư H, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Bùi Thị H; có vợ là Vũ Thị H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/01/2018, đến ngày 20/01/2018 thì tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

1. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu dân cư M, phường C, thị xã C, tỉnh Hải Dương (người làm chứng), vắng mặt.

2. Anh Vũ Xuân Đ, sinh năm 1978; nơi cư trú : Khu dân cư T, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dươn (người làm chứng), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 18/01/2018, V gọi điện cho người thanh niên tên là Đ ở khu dân cư H, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương với mục đích hỏi mua ma túy sử dụng cho bản thân, Đ đồng ý. V mượn xe môtô nhãn hiệu SAPPHIRE, loại xe BELLA, biển kiểm soát 34R1 – 0178 của chị dâu là Lâm Thị T để đi đến nhà Đ, tại khu vực cổng nhà Đ, V đưa cho Đ 300.000 đồng, Đ nhận tiền và đưa cho V 01 gói ma túy đá được đựng trong túi nilon màu trắng. Sau khi mua được ma túy, V cầm gói ma túy trên tay trái rồi đi về nhà. Khi V đi đến đường L thuộc khu dân cư H, phường S thì nhìn thấy lượng công an, do sợ hãi nên V đã vứt gói ma túy xuống đất ngay gần vị trí V đứng thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng, kích thước 2 x 2,5 cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe môtô mà V đang điều khiển.

Tại bản kết luận giám định số 463/C54(TT2) ngày 26/01/2018 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: Mẫu chất kết tinh màu trắng trong 01 (một) túi nilon gửi giám định là ma túy, trọng lượng 0,199 gam; loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 28/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/01/2017; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy số ma túy và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 12 giờ 30 phút, ngày 18/01/2018, tại đường L thuộc khu dân cư T, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương, Trần Văn V có hành vi cất giữ trái phép 0,199 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo sau khi giám định hoàn lại và vỏ bao gói mẫu giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu SAPPHIRE, loại xe BELLA, biển kiểm soát 34R1 – 0178 là tài sản thuộc sở hữu của chị Lâm Thu Th cho bị cáo mượn, chị T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Chí Linh đã trả lại chiếc xe trên cho chị T là phù phợp nên không đặt ra xử lý.

Đối với chiếc điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy, bị cáo đã làm rơi mất, không thu giữ được nên không đặt ra xử lý.

Bị cáo khai mua ma túy của đối tượng tên là Đ ở khu dân cư H, phường S, thị xã C. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Đ để làm việc nhưng Đ vắng mặt tại địa phương nên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau do vậy không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/01/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 0,094 gam mẫu vật và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 463/C54(TT2) của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát

(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2018).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

b

Cỡ chữ