vanban.org

Bản án 22/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 17/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Nông Văn M 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 22/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn M và Hoàng Văn N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẠ LANG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HS-ST
Ngày 17-10-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Nông Thị Điềm.

2. Ông: Nông Văn Tràng.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/TLST-HS ngày 14/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2018/QĐXXST-HS ngày 03/10/2018 đối với các bị cáo:

Nông Văn M, sinh ngày 28/3/199x.

Sinh trú quán: Xóm PA, KL, HL, Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn H và bà Hoàng Thị T; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 08/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang, từ ngày 22/6/2018 đến nay. Có mặt.

Hoàng Văn N, sinh ngày 08/9/199x.

Sinh trú quán: Xóm PA, KL, HL, Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T và bà Khương Thị T; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang, từ ngày 22/6/2018 đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

Hoàng Văn Ng, sinh năm 199x.

Hoàng Văn H, sinh năm 199x.

Cùng nơi cư trú: Xóm CC, KL, HL, Cao Bằng.

Hoàng Văn L, sinh năm 198x. Nơi cư trú: Xóm BT, KL, HL, Cao Bằng.

Khương Văn Q, sinh năm 199x. Nơi cư trú: Xóm PA, KL, HL, Cao Bằng.

Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 22/6/2018, Đội phòng chống ma túy Công an huyện Hạ Lang, đang làm nhiệm vụ tại xóm NT, VC, HL, thì phát hiện Nông Văn M và Hoàng Văn N có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, Hoàng Văn N ngồi sau xe đã ném 01 gói nhỏ ra cạnh đường. Tiến hành kiểm tra 01 gói nhỏ mà N vừa ném, được gói bằng tờ tiền 2.000đ Việt Nam, bên trong có 02 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng. Đấu tranh tại chỗ M và N khai nhận số chất bột màu trắng là ma túy của M vừa mua bên Trung Quốc với giá 500.000đ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 02 gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu HonDa Wave @ màu đỏ đen, BKS 11R1 – 021x và số tiền 250.000đ trong túi quần của M.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Lang tiến hành mở niêm phong và cân xác định trọng lượng số ma túy thu giữ của Nông Văn M và Hoàng Văn N có trọng lượng tịnh là 0,42g (không phẩy bốn mươi hai gam) và tách lấy mẫu gửi giám định. Tại Kết luận giám định số: 138/GĐMT ngày 12/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định vụ án Nông Văn M và Hoàng Văn N là chất ma túy, loại: Heroine.

Tại cơ quan điều tra chứng minh được: Do cả hai cùng nghiện, nên tối ngày 21/6/2018, M rủ N hôm sau đi cùng mua ma túy ở bên Trung Quốc, khoảng 07 giờ ngày 22/6/2018 N dùng xe máy của gia đình chở M vượt mốc 900 khoảng 5 m thì dừng xe ở đó, M một mình đi thêm khoảng 100 m nữa thì gặp và mua ma túy với một người đàn ông Trung Quốc không biết tên và địa chỉ với số tiền 500.000đ. Sau đó quay lại chỗ N đang đợi và lấy ma túy ra cùng nhau sử dụng, số ma túy còn lại M đưa cho N cầm và cả hai quay về nhà, khi đến đoạn đèo KL thuộc NT, VC thì bị Công an huyện Hạ Lang phát hiện và bắt giữ người cùng tang vật. Số ma túy thu giữ có trọng lượng 0,42 gam, được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận là ma túy, loại heroine.

Toàn bộ tiền mua ma túy là của Nông Văn M, N chỉ là người đi cùng được sử dụng ma túy miễn phí và cầm ma túy cho M trên đường về nhà. Chiếc xe máy BKS 11R1 – 021x là tài sản của bố mẹ N; số tiền 250.000đ do M cầm xe máy mà có. Mục đích mua ma túy của M là để sử dụng và bán lẻ kiếm lời, N chỉ là người đi cùng không biết mục đích mua về để bán của Nông Văn M. Trước khi bị bắt, M được bán ma túy cho những người sau:

Hoàng Văn L 03 lần, mỗi lần 100.000đ, lần cuối cùng là ngày 21/6/2018; Hoàng Văn Ng và Hoàng Văn H mỗi người 02 lần, mỗi lần 100.000đ, lần cuối khoảng ngày 17, 18/6/2018; Khương Văn Q 01 lần với giá 100.000đ vào ngày 20/6/2018.

Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSHL ngày 13/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố Nông Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Hoàng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nông Văn M; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn N. Xử phạt bị cáo M từ 07 đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo N từ 12 đến 24 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số Heroine thu giữ; Trả lại 01 xe máy cho bị cáo N; Trả số tiền 250.000đ cho bị cáo M.

Các bị cáo nhất trí không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần và số tiền mua bán ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do nghiện ma túy, nên ngày 22/6/2018 Nông Văn M và Hoàng Văn N, cùng nhau sang Trung Quốc mua ma túy với một người không biết tên và địa chỉ với giá 500.000đ, khi quay về Việt Nam đến đoạn NT, VC, HL thì bị bắt. Số ma túy bị thu giữ có trọng lượng 0,42g (không phẩy bốn mươi hai gam), được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận là chất ma túy, loại Heroine. Toàn bộ tiền mua ma túy là của Nông Văn M, mục đích mua về để sử dụng và bán lẻ. Trước khi bị bắt, Nông Văn M nhiều lần bán ma túy cho Hoàng Văn L, Hoàng Văn Ng, Hoàng Văn H và Khương Văn Q, mỗi lần bán 100.000đ, tất cả những lần bán đều tại nhà bị cáo.

Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, heroine là chất gây nghiện, hủy hoại nghiêm trọng sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, tàng trữ trái phép ma túy ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã có đầy đủ năng lực và nhận thức để biết được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, nhưng đã bất chấp để thực hiện.

Đối với Hoàng Văn N, chỉ là người đi cùng được sử dụng ma túy miễn phí và cầm ma túy cho M trên đường về nhà, việc M mua ma túy về có bán hay không Hoàng Văn N không biết. Khi bị bắt, cùng với M tàng trữ trái phép 0,42g ma túy, nên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với Nông Văn M đã bán ma túy nhiều lần cho rất nhiều người, mỗi lần bán đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, nên Môn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cả hai được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với Nông Văn M, ngày 08/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/9/2017, chấp hành xong án phạt tù, chưa được xóa án tích thì ngày 22/6/2018 lại tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng: Số heroine thu giữ thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; Số tiền 250.000đ không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo M; 01 xe máy BKS 11R1 – 0211, tại cơ quan điều tra và phiên tòa chứng minh được là tài sản của bố mẹ bị cáo N, việc bị cáo mang xe đi phạm tội gia đình không biết, nên cần trả lại cho bị cáo N.

. Về án phí: Các bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nông Văn M.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn N.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt Nông Văn M 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 22/6/2018.

- Xử phạt Hoàng Văn N 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 22/6/2018.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, Điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì, chứa chất ma túy có ghi tên vụ án Nông Văn M và Hoàng Văn N.

- Trả 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave@, màu đỏ đen, BKS 11R1 – 021x cho bị cáo Hoàng Văn N.

- Trả lại cho bị cáo M số tiền 250.000đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang theo biên bản giao nhận ngày 14/9/2018.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Nông Văn M và Hoàng Văn N mỗi người phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ