vanban.org

Bản án 22/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 07/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự

Số: 22/2018/HS-ST

Ngày: 07/05/2018

T A ÁN NHÂN DÂN CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM HUY N GIAO THỦY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM T A ÁN NHÂN DÂN HUY N GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: T ẩm p án - C ủ t a p iên tòa: Ông Ph m Thanh Lâm. Các Hội t ẩm n ân dân: Ông: Nguyễn Ngọc Giao. Bà: Phùng Thị Quỳnh. - hư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao hủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 5 năm 2018 t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/ QĐXXST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Vũ Văn Đ - Sinh năm 1976 t i xã G, huyện G, tỉnh N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm 11 xã G, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Đ và bà Ph m Thị T (đều đã chết); Vợ: Trần Thị T - Sinh năm 1975 làm ruộng và trú t i xóm 11 xã G, huyện Gi; có 2 con lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị t m giam tính từ ngày bị bắt t m giữ 24/01/2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị t m giam t i tr i t m giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt t i phiên tòa. - Người làm c ứng: Anh Vũ Văn H - Sinh năm 1980. Địa chỉ: Xóm 8 xã G, huyện G, tỉnh N. T i phiên tòa Anh H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11giờ 00 phút, ngày 24/01/2018, Tổ

tuần tra Công an huyện Giao Thủy, phối hợp với Công an xã Giao Long, tuần tra t i khu vực xóm 8 xã Giao Long huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện Vũ Văn Đ có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma túy. Tổ tuần tra tiến hành kiểm tra đối với Vũ Văn Đ phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của Đ 02 gói nhỏ được gói bằng giấy báo bên trong có chứa chất bột d ng cục màu trắng. Vũ Văn Đ khai đó là hêrôin của Đ cất giấu để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu T. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngày 25/01/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy đưa 02 gói chất bột d ng cục màu trắng thu giữ của Đ đi giám định. T i bản kết luận giám định số: 114/GĐKTHS ngày 25/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột d ng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu T gửi đi giám định đều là ma túy. Lo i ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu T: 0,299 gam. T i Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Giao Thủy, cũng như t i phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Bản cáo tr ng số: 26/CT - VKS ngày 03/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: T i cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là: 0,299 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử ph t bị cáo Vũ Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Về hình ph t bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình ph t bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Bị cáo Vũ Văn Đ nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là ph m tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t và cho bị cáo được miễn hình ph t bổ sung. NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 24/01/2018, Tổ tuần tra Công an huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Vũ Văn Đ đã có hành vi cất giấu trái phép 02 gói ma túy, bị cáo khai đi mua về để sử dụng cho bản thân. Vật chứng được thu giữ niêm phong gửi đi giám định: T i bản kết luận giám định số: 114/GĐKTHS ngày 25/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột d ng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu T gửi đi giám định đều là ma túy. Lo i ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu T: 0,299 gam. Do đó, bị cáo đã ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi ph m tội của bị cáo đã xâm ph m đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an t i địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ n n xã hội, gia tăng tội ph m hình sự, xâm ph m tới đ o đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác h i của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân dẫn tới ph m tội. Do đó cần áp dụng hình ph t nghiêm khắc buộc bị cáo phải tập trung cải t o một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội ph m nói chung. [3] Khi quyết định hình ph t, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định t i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [4] Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người ph m tội còn có thể bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình ph t bổ sung

là ph t tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo. [5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Vũ Văn Đ, Đ khai mua 02 gói Heroine với giá 400.000 đồng qua khe cửa sắt của một nhà cách dốc Hoành Nhà, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy khoảng 200 mét, Đ không biết nhà đó của ai, không nhớ vị trí đặc điểm nhà đó và không biết người bán Heroine cho Đ. Quá trình điều tra chưa xác định được đối tượng đã bán ma túy cho Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách ra để điều tra xử lý sau là phù hợp. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định t i Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử ph t: Bị cáo Vũ Văn Đ: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 24/01/2018. 2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/4/2018 t i Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy). 3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vũ Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi

hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ