vanban.org

Bản án 22/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 04/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2018/HSST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La nhƣ sau:

Tuyên bố bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Mùa Thị C 12 (mƣời hai) tháng tù, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 31/3/2018. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày nhập trại chấp hành án. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa Thị C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2018/HSST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La nhƣ sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 22/2018/HS-PT
Ngày 04 - 10 - 2018
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Điệt
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Hồng, bà Tòng Thị Hiền.
tỉnh Sơn La.
phiên tòa: Bà Cao Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:
64/2018/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh
Sơn La.
- Bị cáo bị kháng nghị:
V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Mông;
giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không;
con ông Mùa A T (đã chết) và bà Sồng Thị S; có chồng là Thào A Ch (đã ly hôn)
và có 03 con; con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh đôi ngày 21/10/2015; tiền án,
tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 31/3/2018, đƣợc tại
ngoại do đang nuôi con nhỏ dƣới 36 tháng tuổi. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 09 giờ 05 phút ngày 28/3/2018, tại bản B, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La. Tổ công tác C an huyện V phát hiện bắt quả tang Mùa Thị C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng và màu hồng Mùa Thị C khai nhận đó là Heroine và hồng phiến; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Elegant II, không có biển kiểm soát. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh vật chứng đã thu giữ có khối lƣợng 0,23 gam, lấy ra 0,04 gam ký hiệu C làm mẫu trƣng cầu giám định loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 433/KLMT ngày 04/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định kỹ hiệu C là chất ma túy; loại chất Heroine và Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04 gam; tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được 0,23 gam loại chất Heroine và Methamphetamine”.

Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ Mùa Thị C khai nhận mua của 01 ngƣời phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ tại bản Cột Mốc, xã X. Do không biết tên địa chỉ cụ thể của ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh.

Tại bản án số: 64/2018/HSST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt Mùa Thị C 12 (mƣời hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày nhập trại chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng 0,19 gam Heroine và Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong đựng que thử ma túy đối với Mùa Thị C.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐ-VKS ngày 12/7/2018 kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2018/HSST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La. Đề nghị sửa Bản án hình sự sơ thẩm ghi đầy đủ tại phần lý lịch ngày bị cáo bị tạm giữ. Quyết định của bản án tuyên không trừ thời gian tạm giữ 03 ngày vào thời hạn chấp hành án phạt tù. Bị cáo còn phải chấp hành án là 11 tháng 27 ngày tù, kể từ ngày nhập trại chấp hành án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên Quyết định kháng nghị và đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, sửa một phần bản án sơ thẩm. Giữ nguyên các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị. Bị cáo không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Mùa Thị C bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng do nghiện ma túy. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

Bản án hình sự sơ thẩm, tại phần căn cƣớc lý lịch không ghi ngày tháng năm bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày bị cáo đƣợc tại ngoại. Do đó, Quyết định của bản án tuyên không khấu trừ thời gian tạm giữ 03 ngày vào thời hạn chấp hành án phạt tù cho bị cáo là vi phạm điểm a, g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi phát hiện Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã ra thông báo số: 368/TB-TA ngày 05/7/2018, sửa chữa, bổ sung bản án. Việc sửa chữa, bổ sung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm theo Điều 261 Bộ luật Tố tụng hình sự không làm thay đổi bản chất vụ án hoặc gây bất lợi cho bị cáo. Việc sửa chữa, bổ sung đƣợc thể hiện bằng văn bản nhƣng không giao ngay cho những ngƣời quy định tại Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Từ sự phân tích nêu trên, xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La không có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí do Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2018/HSST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La nhƣ sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tuyên bố bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Mùa Thị C 12 (mƣời hai) tháng tù, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 31/3/2018. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày nhập trại chấp hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 04/10/2018).

Cỡ chữ