vanban.org

Bản án 22/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trần Đình N.

Về nuôi con: Chị Trần Thị B và anh Trần Đình N có 02 con chung là: Trần Đình N1, sinh ngày 27/6/2000 và Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005. Con Trần Đình N1 đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao con chung Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005 cho chị Trần Thị B nuôi dưỡng cho đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHST Trần Thị B - Trần Đình N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trần Đình N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HNGĐ-ST
Ngày 06-7-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Sơn Thị Nhân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Chính

Ông Vũ Văn Lẫy

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 588/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị B; địa chỉ: Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Anh Trần Đình N; địa chỉ: Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai của nguyên đơn, chị Trần Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng đến năm 2017 mới đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/8/2017. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, sau khi sinh con thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau. Hiện tại hai vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn nên chị B đề nghị Toà án giải quyết cho chị B được ly hôn với anh N.

Về nuôi con: Chị B và anh N có 02 con chung là: Trần Đình N1, sinh ngày 27/6/2000 và Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005, chị B đề nghị giao cả hai con cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị B tự thoả thuận với anh N, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị B không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình Toà án giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận K tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh N không hợp tác, không đến Toà án làm việc, không tham gia các phiên hoà giải, không có văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cơ bản thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị Trần Thị B được ly hôn anh Trần Đình N. Về con chung: Giao con chung là Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005 cho chị Trần Thị B nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Trần Đình N hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; còn con Trần Đình N1, sinh ngày 27/6/2000 đến thời điểm xét xử ngày hôm nay đã đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Trần Thị B không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị B phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Anh Trần Đình N, cư trú tại: Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Trần Đình N không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do lần thứ hai. Toà án nhân dân quận K nhận được đơn đề nghị của chị Trần Thị B xin xét xử vắng mặt vì lý do công việc nên không thể đến phiên toà được. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Trần Thị B và anh Trần Đình N.

Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị B và anh Trần Đình N có đăng ký kết hôn Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng, trên cơ sở tự nguyện. Vì vậy, hôn nhân giữa Đ, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/8/2017 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về hôn nhân: Căn cứ vào vào tự khai của chị Trần Thị B và các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác chị Trần Thị B và anh Trần Đình N trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau, hai vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp pháp luật.

Về nuôi con: Chị Trần Thị B và anh Trần Đình N có 02 con chung là: Trần Đình N1, sinh ngày 27/6/2000 và Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005; đến thời điểm xét xử con Trần Đình N1 đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Đình N không có ý kiến gì về việc nuôi con, chị Trần Thị B có nguyện vọng được nuôi con Trần Đình V và con Trần Đình V cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ là chị Trần Thị B nên việc giao con Trần Đình V cho chị Trần Thị B nuôi dưỡng là phù hợp cần chấp nhận. Căn cứ vào Điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung Trần Đình V cho chị Trần Thị B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Đình N hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị B không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.

Do anh Trần Đình N không có bản tự khai, nên không thể hiện gì về các quan hệ như hôn nhân, con chung và tài sản chung nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Về án phí: Chị Trần Thị B phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81; 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trần Đình N.

2. Về nuôi con: Chị Trần Thị B và anh Trần Đình N có 02 con chung là: Trần Đình N1, sinh ngày 27/6/2000 và Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005. Con Trần Đình N1 đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao con chung Trần Đình V, sinh ngày 12/02/2005 cho chị Trần Thị B nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Hồng Quân hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản: Chị Trần Thị B không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị B phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010002 ngày 06/4/2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng, chị Trần Thị B đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ