vanban.org

Bản án 22/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Đặng Ngọc U được ly hôn. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là cháu Đặng Lê Nhật L, sinh ngày 13/11/2010 và cháu Đặng Đình T, sinh ngày 20/9/2016 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ú không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chj Lý xin ly hôn anh Ut"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HNGĐ-ST
Ngày 07/02/2018
V/v:’’ Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con’’

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Ngọc Năm

2. Ông Lê Xuân Thư

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:

(không tham gia)

Ngày 07 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 306/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2018 và Thông báo xét xử số: 11/TBXX ngày 31/01/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị L – Sinh năm: 1984. Địa chỉ: th«n N, xã C, h H, tỉnh T.

- Bị đơn: anh Đặng Ngọc U – Sinh năm: 1982. Địa chỉ: th«n N, xã C, huyện H, Tỉnh T. Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn chị Lê Thị L, vắng mặt bị đơn anh Đặng Ngọc Ö.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2017, bản tự khai ngày 06/12/2017, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị L đã trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Ngọc U có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, được UBND xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/4/2010. Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh U nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, đánh đập vợ con tàn nhẫn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chúng tôi không thể tiếp tục được nữa, nên tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa cho tôi được ly hôn với anh Đặng Ngọc U.

Về con: giữa tôi và anh U có hai con chung tên cháu là Đặng Lê Nhật L, sinh ngày 13/11/2010 và cháu Đặng Đình T, sinh ngày 20/9/2016, lâu nay hai cháu ở với tôi, nay ly hôn nguyện vọng của tôi xin được nuôi cả hai cháu không yêu cầu anh U cấp dưỡng.

Về tài sản: Chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

*Tại bản tự khai ngày 06/12/2017, trong quá trình tố tụng bị đơn là anh Đặng Ngọc U đã trình bày:

Về hôn nhân: tôi và cô L tự nguyện tìm hiểu, tổ chức cưới và Đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoằng Cát vào năm 2010. Vợ chồng đã sống với nhau được gần 8 năm, nay cô Lý làm đơn xin ly hôn với tôi do nhiều lý do khác nhau, tôi không muốn ly hôn và mong vợ chồng thông cảm, chia sẻ bỏ qua lỗi lầm cho nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Còn cô L vẫn cương quyết đòi ly hôn với tôi và không muốn cùng tôi tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình thì tôi cũng tôn trọng suy nghĩ và quyết định của cô ấy.

Về con: giữa tôi và cô L có hai con chung tên cháu là Đặng Lê Nhật L, sinh ngày 13/11/2010 và cháu Đặng Đình T, sinh ngày 20/9/2016. Nếu phải ly hôn tôi đề nghị được nuôi một cháu, mục đích không phải để tranh chấp quyền lợi mà tôi chỉ muốn san sẻ gánh nặng với vợ tôi.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa ngày 25/01/2018 anh Đặng Ngọc U đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng sau đó anh đã bỏ về, tại phiên tòa hôm nay anh không đến, HĐXX căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 BLTT Dân sự xử vắng mặt anh Đặng Ngọc U;

Chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn và nuôi cả hai con;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Lê Thị L và bị đơn là anh Đặng Ngọc U đều có nơi cư trú tại thôn N, xã C, huyện H, tỉnh T. và chị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn, nuôi con, như vậy đây là tranh chấp được quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện là Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa.

Tại phiên tòa ngày 25/01/2018 anh U đã nhận được giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nên HĐXX quyết định hoãn phiên tòa; tại phiên tòa hôm nay anh U tiếp tục vắng mặt, căn cứ điều 228 BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt anh Đặng Ngọc U.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Đặng Ngọc U kết hôn tự nguyện, được UBND xã C cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân ly hôn là do bất đồng quan điểm sống và thường xuyên mâu thuẫn, anh U suốt ngày tụ tập chơi bời không chịu lao động và hay đánh chửi vợ con. Trong bản tự khai của anh U thì anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng cô L vẫn cương quyết đòi ly hôn thì anh U cũng tôn trọng suy nghĩ và quyết định ly hôn của cô L. Tại phiên tòa hôm nay cô L vẫn giữ nguyên quan điểm là cương quyết ly hôn anh U, do mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy mâu thuẫn giữa chị L và anh U đã đến mức trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung của anh chị không thể kéo dài, nên cần xử để chị Lê Thị L và anh Đặng Ngọc U được ly hôn là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.

Về con chung : Vợ chồng có hai con chung tên cháu là Đặng Lê Nhật L, sinh ngày 13/11/2010 và cháu Đặng Đình T, sinh ngày 20/9/2016. Hai cháu hiện nay đang ở với chị L.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của chị L: Chị có nguyện vọng được nuôi cả 2 con vì từ khi sinh ra tới nay chị là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, cháu Đặng Lê Nhật L - sinh ngày 13/11/2010 cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi Tòa án giải quyết cho bố mẹ ly hôn, cháu Đặng Đình T - sinh ngày 20/9/2016 cháu đang còn nhỏ (cháu mới được 16 tháng tuổi), Nên cần thiết giao cả hai cháu cho mẹ nuôi là đảm bảo được môi trường ổn định cho cháu ăn học, đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất và các sinh hoạt khác của cháu, phù hợp và đúng theo quy định của pháp luật. Chị L không yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của anh U: anh U có nguyện vọng được xem xét nuôi một cháu, nhưng xét thấy anh U không có công ăn việc làm ổn định. Nên sẽ không có điều kiện để chăm sóc, giáo dục con, việc giao con cho anh U nuôi dưỡng là không phù hợp với thực tế, không đúng quy định của pháp luật.

Về tài sản: Hai bên không yêu cầu nên tòa miễn xét. [3] Về án phí: Chị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự trong vụ án ly hôn. Chị đã nộp đủ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0005927 ngày 27/11/2017 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147 và Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Xử:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Đặng Ngọc U được ly hôn.

Về nuôi con chung: Giao hai con chung là cháu Đặng Lê Nhật L, sinh ngày 13/11/2010 và cháu Đặng Đình T, sinh ngày 20/9/2016 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ú không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.

Anh Đặng Ngọc U có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Nhưng anh U cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của chị L.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ án phí dân sự trong vụ án ly hôn, chị đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí AA/2016/0005927 ngày 27/11/2017 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa.

Chị Lê Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với anh Đặng Ngọc U được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ