vanban.org

Bản án 22/2018/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/06/2018 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Ngọc Tr. Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 09/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Tr kiện xin ly hôn Ngô Văn V"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HNGĐ-PT
Ngày: 11 - 6 - 2018
Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập

Các Thẩm phán:

Ông Trần Trọng Hữu

Ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Răng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 18/2018/TLPT- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 về việc “Xin ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 30/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thới Bình bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 30/2018/QĐPT-DS ngày 09 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Tr, sinh năm 1985 (Có mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh C

Chỗ ở hiện nay: Thị trấn Th, huyện T, tỉnh C

- Bị đơn: Anh Ngô Văn V , sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh C

- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc Tr là nguyên đơn.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo chị Nguyễn Ngọc Tr trình bày:

Về hôn nhân: Chị Tr và anh V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2005. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh V thường xuyên uống rượu với bạn bè, chơi bời, cờ bạc, không bàn bạc với vợ trong công việc làm ăn, không tôn trọng vợ. Đến khoảng tháng 6/2017 vợ chồng ly thân với nhau, chị về sống bên gia đình cha mẹ chị. Chị Tr cho rằng vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được, nên yêu cầu xin ly hôn đối với anh V .

Về con chung: Có 02 người con là: Ngô Thị Quyền Tr1, sinh ngày 11/4/2006 đang sống với Chị Tr và Ngô Văn D , sinh ngày 17/6/2008 đang sống với anh V . Khi ly hôn, con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng. Trường hợp các con có nguyện vọng sống với chị thì chị nuôi, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Theo anh Ngô Văn V trình bày:

Anh V thống nhất với trình bày của Chị Tr về việc kết hôn, thời gian ly thân. Anh V thừa nhận có uống rượu nhưng chỉ để giao tiếp trong công việc làm ăn còn việc chơi bời, cờ bạc với bạn bè chỉ mang tính giải trí chứ không nhằm mục đích ăn thua bằng tiền. Anh V xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không có gì trầm trọng, anh xác định còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn. Anh V hứa sẽ không chơi bời, cờ bạc như trước đây để vợ chồng đoàn tụ chung sống cùng nuôi dạy con.

Về con chung: Có 02 con như Chị Tr trình bày. Trường hợp phải ly hôn, con muốn sống với ai tuỳ theo nguyện vọng của con.

Về tài sản chung: Trường hợp phải ly hôn, thì vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 30/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc Tr về việc ly hôn đối với anh Ngô Văn V .

Chị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Tr đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0018947 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/3/2018 chị Nguyễn Ngọc Tr có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết cho chị ly hôn với anh V .

Ngày 19/3/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình có Quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPH-VKS-DS đối với bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Tr được ly hôn với anh Ngô Văn V .

Tại phiên tòa phúc thẩm, Chị Tr giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Đại diện

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau rút toàn bộ Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tại phiên toà đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà; đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Ngọc Tr, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình.

Xét kháng cáo của chị Tr , Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Tr và anh V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2005, đến khoảng tháng 6/2017 anh chị ly thân với nhau. Chị Tr cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh V thường xuyên uống rượu với bạn bè, chơi bời, cờ bạc, không bàn bạc với vợ trong công việc làm ăn, không tôn trọng vợ; Chị Tr xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên yêu cầu xin ly hôn với anh V . Anh V cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không có gì trầm trọng, anh vẫn còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn. Xét thấy, trong cuộc sống vợ chồng, vấn đề mâu thuẫn xảy ra là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, những mâu thuẫn đó có đến mức trầm trọng để vợ chồng ly hôn với nhau hay không là vấn đề cần xem xét. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, Chị Tr cũng xác định trong quá trình chung sống anh V chỉ có 01 lần đánh chị (vào năm 2007) nhưng vấn đề này anh V đã khắc phục, sửa chữa. Đối với những mâu thuẫn như chị đặt ra, anh V thừa nhận có uống rượu với bạn bè chỉ để giao tiếp trong công việc làm ăn; anh V thừa nhận có chơi bời cờ bạc (đánh bài, đá gà) nhưng chỉ mang tính giải trí chứ không nhằm mục đích ăn thua bằng tiền; về vấn đề bàn bạc trong công việc làm ăn, anh V cho rằng do anh làm nghề đi cân tôm (mua bán), trong việc mua bán giá cả thay đổi bất thường nên không có điều kiện để trao đổi với chị mà anh phải tự quyết định. Còn lại những mâu thuẫn khác như bất đồng quan điểm sống, anh V không tôn trọng chị, nhưng chị chỉ trình bày chung chung mà không nêu được cụ thể. Với những mâu thuẫn chị đặt ra như trên, xét thấy chưa đến mức trầm trọng, hơn nữa, anh V cũng xác định vẫn còn yêu thương chị, không đồng ý ly hôn và hứa sẽ khắc phục sửa chữa những thiếu sót đã qua để vợ chồng đoàn tụ chung sống, cùng nhau nuôi dạy con. Mặt khác, hiện tại anh chị còn có 02 con chưa thành niên, ở độ tuổi này các cháu rất cần có sự chăm sóc, nuôi dạy của cha mẹ. Việc tạo điều kiện cho anh chị khắc phục mâu thuẫn để chung sống lại với nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng các con là cần thiết. Án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Tr xin ly hôn với anh V là có căn cứ. Do đó cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị Tr , giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Án phí dân sự phúc thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Tr phải chịu theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 289; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Ngọc Tr.

Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 09/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc Tr xin ly hôn đối với anh Ngô Văn V .

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Chị Tr phải chịu 300.000 đồng. Ngày 22/12/2017 Chị Tr đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0018947 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm Chị Tr phải chịu 300.000 đồng. Ngày 14/3/2018 Chị Tr đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0005335 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ