vanban.org

Bản án 22/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Dương Văn A phải trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 48.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Giải quyết hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Dương Văn A phải trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 48.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/DS-ST
Ngày 12-02-2018
Vv tranh chấp về hợp đồng dân sự
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.

2. Bà Trần Thị Minh Thâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Định – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2017/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2017, về việc tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2018 Quyết định hoãn phiên tòa số: 186/2018/QĐST-DS ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt;

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn A, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 9 năm 2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị P trình bày: Bà và bà Nguyễn Thị T ở cùng địa phương nên có quen biết nhau. Ngày 20 tháng 12 năm 2014, do cần tiền mua xe để đi mua bán cá nên bà T có mượn của bà số tiền 51.000.000 đồng và hẹn mỗi tháng sẽ trả 1.000.000 đồng. Sau đó bà T chỉ trả được 3.000.000 đồng còn nợ lại 48.000.000 đồng đến nay chưa trả. Nay bà yêu cầu bà T và chồng là ông Dương Văn A trả số tiền 48.000.000 đồng và không yê cầu tính lãi. Bà T xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng bà không đồng ý.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 28 tháng 12 năm 2017 và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày: Năm 2012, bà có nợ của bà Nguyễn Thị Thu Sương 30.000.000 đồng nhưng do bà Sương nợ tiền của bà P nên bà Sương chuyển số nợ trên cho bà P. Số tiền hốt huê từ bà Sương bà dùng để trang trải chi phí sinh hoạt bản thân. Sau đó bà có chơi huê hụi với bà P nhưng không đóng tiền nên hai bên thống nhất chuyển sang nợ vay với tổng số tiền là 51.000.000 đồng. Bà có trả nợ dần cho bà P và hiện nay còn nợ lại 48.000.000 đồng nhưng các lần trả tiền đều không viết giấy. Việc bà P khai bà mượn tiền mua xe là không đúng vì từ trước đến nay bà không mua chiếc xe nào. Nay bà P yêu cầu trả số nợ trên bà đồng ý trả nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng. Số nợ này chỉ mình bà vay mà chồng bà là ông Dương Văn A không biết.

Tại phiên Toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Văn A không tuân thủ các quy định tại Điều 70, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Tvà bà Nguyễn Thị P thống nhất khoản nợ mà bà Nguyễn Thị P yêu cầu là khoản nợ từ việc vay mượn nên đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị T cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt lợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Dương Văn A vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông A.

Xét yêu cầu trả nợ của bà Nguyễn Thị P, Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Nguyễn Thị T thống nhất thừa nhận đến nay bà còn nợ của bà Nguyễn Thị P số tiền 48.000.000 đồng.Tuy bà P không có chứng cứ gì để chứng minh bà T dùng số tiền này vào việc mua bán cá nhưng bà T khai dùng tiền hốt huê từ bà Sương để chi tiêu sinh hoạt chung nên nghĩa vụ phát sinh đều phải do vợ chồng cùng chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình. Bà T xin được trả nợ dần mỗi tháng 500.000 đồng nhưng không được bà P đồng ý, nên căn cứ vào các Điều 463, 466, khoản 1 Điều 469, Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015, buộc bà T và chồng là ông Dương Văn A phải có nghĩa vụ thanh toán một lần cho bà P số tiền là 48.000.000 đồng. Bà P không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Dương Văn A phải chịu 48.000.000 đồng x 5% = 2.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Vì toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị P được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vàokhoản 3, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các các Điều 463, 466, khoản 1 Điều 469, Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

1. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Dương Văn A phải trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 48.000.000 đồng (bốn mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

Vợ chồng bà Nguyễn Thị T phải chịu 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị P 1.275.000 đồng (một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007006 ngày 16 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án ,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ