- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Y và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn Y, Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lƣơng Quang Q và Hà Công H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƢ XUÂN TỈNH THANH HOA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2017/HSST Ngày: 14-7-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƢ XUÂN - TỈNH THANH HOÁ
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Bảy; 2. Ông Nguyễn Xuân Ký.
Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân: Ông Trương Xuân Dũng
- Kiểm sát Viên.
Vào ngày 14/7/2017, tai Hội trường xét xử TAND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2017/HSST ngày 16 tháng 6 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hà Văn Y - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 17/5/1981
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Làng Mài, xã Bình Lương, xuyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông: Hà Văn Nhánh - Sinh năm: 1959 và bà: Quách Thị Mận (Đã chết); Bị cáo có vợ là Hà Thị Tươi sinh 1985, có 2 con, con lớn nhất sinh 2004, con nhỏ nhất sinh 2005.
Tiền sự; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ 3 ngày từ ngày03 tháng04 năm 2017, đến ngày06 tháng04 năm 2017 được thay thế biê ̣n pháp ngăn chă ̣n cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lê Khắc V - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 03/4/1989
Nơi ĐKHKTT: xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Làng Gió, Bình Lương, Như Xuân, Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Khắc Sinh - Sinh năm: 1960 và bà: Hà Thị Lai (Đã chết); Bị cáo có vợ là: Hoàng Thị Ngoan - Sinh năm: 1988 - Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chỗ ở hiện nay: Làng Gió, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, có 02 con. Lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015;
Tiền sự; Tiền án: Không.
Ngày 02/4/2017 sau khi phạm tội đánh bạc đã bỏ trốn. Đến ngày 05/4/2017, Lê Khắc Việt đã đến cơ quan CSĐT Công an huyện Như Xuân đầu thú. Bị cáo bị áp dụng biê ̣n pháp ngănchă ̣n cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/4/2017 cho đến nay. (Có mặt)
3. Họ và tên: Phạm Văn B - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 15/5/1990.
Nơi ĐKHKTT: xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Làng Lườn, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông: Phạm Văn Xuân (Đã chết); Con bà: Lê Thị Đức - Sinh năm: 1959; Gia đình có 02 anh em, bị can là con đầu trong gia đình. Bị cáo chưa có gia đình riêng;
Tiền sự; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ 3 ngày từ ngày 03/04/2017 đến ngày 06/4/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Hà Công S - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 10/01/1994.
Nơi ĐKHKTT: xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Làng Mài, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trinh độ học vấn: 9/12; Con ông: Hà Công Thắng - Sinh năm: 1950; Con bà: Hà Thị Dân - Sinh năm: 1950; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Họ tên vợ: Hà Thị Hiền - Sinh năm: 1996; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2013;
Tiền sự; Tiền án: Không;
Sau khi phạm tội đánh bạc đã bỏ trốn. Đến ngày 04/4/2017, Hà Công Sơn đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Xuân đầu thú. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/4/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Lê Văn Q - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 30/04/1983.
Nơi ĐKHKTT: xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: thôn Hợp Thành, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trinh độ học vấn: 10/12; Con ông: Lê Văn Đăng (Đã chết); Con bà: Đặng Thị Nguyện - Sinh năm: 1957; Gia đình có 04 anh em, bị can là con đầu trong gia đình; Họ tên vợ: Lô Thị Thiết - Sinh năm: 1990; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2006;
Tiền sự; Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ 3 ngày từ ngày 03/04/2017 đến ngày 06/4/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Lương Quang Q - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 16/02/1969.
Nơi ĐKHKTT: xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Làng Mài, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trinh độ học vấn: 4/10; Con ông: Lương Quang Xuân - Sinh năm: 1932; Con bà: Cầm Thị Thương - Sinh năm: 1936; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Họ tên vợ: Hà Thị Trinh - Sinh năm: 1970; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2004;
Tiền sự; Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ 3 ngày từ ngày 03/04/2017 đến ngày 06/4/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Hà Công H - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 05/06/1966.
Nơi ĐKHKTT: xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Làng Mài, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa;
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trinh độ học vấn: 5/10; Con ông: Hà Công Thắng - Sinh năm: 1950; Con bà: Hà Thị Dân
- Sinh năm: 1950; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình; Họ tên vợ: Hà Thị Lý - Sinh năm: 1969; Bị cáo có 06 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2004;
Tiền sự; Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ 3 ngày từ ngày 03/04/2017 đến ngày 06/4/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn Y: ông Hoàng Đức Hiếu – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Lương Quang Q: ông Lê Bá Mai – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
NHẬN THẤY:
Các bị cáo Hà Văn Y, Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lƣơng Quang Q và Hà Công H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/4/2017, Hà Văn Y, Lương Quang Q, Hà Công H, Hà Công S cùng ở thôn Làng Mài, xã Bình Lương, huyện Như Xuân, sau khi ăn cơm mừng nhà mới tại gia đình anh Hà Công Chuyền ở cùng thôn thì rủ nhau đến nhà Hà Văn Y để uống nước, tiếp đó có Lê Khắc V ở Làng Gió, xã Bình Lương và Phạm Văn B ở Làng Lườn, xã Bình Lương cùng đến nhà Hà Văn Y để uống nước. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Lê Văn Q ở thôn Hợp Thành, xã Bình Lương trên đường đi đến Làng Mài để xem bóng đá, khi đi qua nhà Hà Văn Y thấy đông người nên vào chơi. Gặp nhau các đối tượng trên cùng rủ nhau đánh bài lá “Ba cây” ăn tiền, cả bảy người trải chiếu ngồi trên nền nhà và dùng 01 (một) bộ bài tú lơ khơ chọn ra 36 lá bài từ “A” đến “9” và cùng tiến hành đánh bài ăn tiền, người cầm Chương sẽ chia cho mỗi người chơi 3 lá bài, người chơi đặt tiền và so sánh điểm trên các lá bài với nhà Chương để xác định thắng, thua nếu cao điểm hơn nhà Chương thì nhà Chương phải trả cho người chơi bằng số tiền đã đặt và ngược lại. Người chơi nào có số điểm cộng là tròn chục (10, 20) thì sẽ được nhà Chương trả gấp đôi số tiền đặt và được cầm Chương ván tiếp theo, mức đặt thấp nhất là 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Khi đánh bạc Hà Công S có khoảng 1.000.000đ (Một triệu đồng), Lê Văn Q có khoảng 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng), Lê Khắc V có khoảng 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), Hà Văn Y có khoảng 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), Phạm Văn B có khoảng 1.000.000đ (Một triệu đồng), Hà Công H có khoảng 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) vay của anh Lương Văn N - Sinh năm 1991 ở thôn Sơn Thủy, xã Tân Bình, huyện Như Xuân (cho vay tại nhà Hà Văn Y trước khi đánh bạc), Lương Quang Q vay của chị Hà Thị T (vợ Y) số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cả bọn đã dùng tất cả số tiền này để đánh bạc. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày khi các đối tượng trên đang đánh bài ăn tiền thì bị tổ công tác Công an huyện Như Xuân ập vào bắt quả tang, lập biên bản, thu giữ tang vật.
Tại bản cáo trạng số: 23/CT-KSĐT-TA ngày 15/6/2017 của Viện VKSND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo: Hà Văn Y, Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lƣơng Quang Q và Hà Công H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 248 BLHS.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hà Văn Y, Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lương Quang Q và Hà Công H phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và điều 60 BLHS. Xử phạt các bị cáo: Hà Văn Y từ 07 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS. Xử phạt các bị cáo: Lê Khắc V từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS. Xử phạt bị cáo: Phạm Văn B từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS. Xử phạt bị cáo: Hà Công S từ 8 đến 11 tháng cải tạo không giam giữ.
5. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS. Xử phạt bị cáo: Lê Văn Q từ 8 đến 11tháng cải tạo không giam giữ.
6. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS. Xử phạt bị cáo: Lương Quang Q từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ.
7. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS. Xử phạt bị cáo: Hà Công H từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung VKS đề nghị: không khấu trừ thu nhập và không áp dụng khoản 3 điều 248 BLHS phạt tiền các bị cáo.
Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị HĐXX giải quyết về vật chứng vụ án, về án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Y đồng tình với quan điểm của đại diện viện kiểm sát về tội danh, điều luật và tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm về điều kiện sống của bị cáo, về nhân thân, về hoàn cảnh gia đình khó khăn và thuộc hộ nghèo để xử bị cáo Y từ 6 – 9 tháng cải tạo không giam giữ, đồng thời miễn khấu trừ thu nhập và tiền án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Q đồng tình với quan điểm của đại diện viện kiểm sát về tội danh, điều luật và tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, người bào chữa còn đề nghị HĐXX xem xét thêm về điều kiện sống của bị cáo, về nhân thân bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng 2 và Huy chương chiến sỹ vẻ vang, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 để xử bị cáo Q mức hình phạt thấp nhất có thể, đồng thời xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn miễn cho bị cáo tiền tiền khấu trừ thu nhập và tiền án phí theo quy định.
Tại phiên tòa các bị cáo có người bào chữa không có ý kiến bào chữa bổ sung, các bị cáo còn lại không có ý kiến tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát. Lời nói sau cùng tất cả các bị cáo đều nhận thức được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức hình phạt thấp nhất có thể.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, người bào chữa, lời khai nhận của các bị cáo và lời khai nhận của những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai nhận tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/4/2017 các bị cáo gồm Hà Văn Y, Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lương Quang Q và Hà Công H đã cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” ăn tiền tại nhà Hà Văn Y, số tiền phục vụ cho việc đánh bạc thu được là 7.800.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội: “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được được quy định tại khoản 1 điều 248 BLHS. Như Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Như Xuân đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi, hậu quả và nhân thân thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn xã hội, làm tổn hại đến kinh tế gia đình, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong vụ án này tất cả các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cãi trước hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều là người lao động nhất thời phạm tội, phần lớn các bị cáo đều thuộc diện gia đình hộ nghèo và cận nghèo sống tại vùng đặc biệt khó khăn của địa phương, có 05 bị cáo là người dân tộc thiếu số. Nên HĐXX xét thấy cần áp dụng các điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ đáng kể cho mỗi bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, có ý thức tự cải tạo bản thân trở thành con người có ích cho xã hội. Mặt khác, tất cả các bị cáo đều không có tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng các hình phạt cho các bị cáo cải tạo tại cộng đồng cũng đủ răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với hai bị cáo Lê Khắc V và Hà Công S khi Công an vào bắt quả tang do hoảng sợ đã bỏ chạy, nhưng sau đó ít ngày đã đến Cơ quan Công an huyện Như Xuân để đầu thú. Nên cho các bị cáo này được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS là phù hợp.
Ngòai ra, Trong vụ án có 3 bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương. Cụ thể: Bị cáo Lương Quang Q có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng hai và Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Bị cáo Lê Khắc V có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Bị cáo Q có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng 1. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của BLHS 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội 14 thì tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 là quy định có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm cho các bị cáo là phù hợp.
Xét về vai trò của từng người trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể. Cả bảy bị cáo khi đến nhà bị cáo Y chơi đã rủ nhau đánh bài ăn tiền và tham gia đánh bạc với vai trò tương đương nhau, tổng số tiền tham gia đánh bạc không lớn 7.800.000đ. Trong vụ án này, bị cáo Y tuy tham gia chơi với số tiền ít 700.000đ nhưng là người đã đồng ý cho các bị cáo khác chơi bài ăn tiền tại nhà mình, bị cáo V tham gia với số tiền nhiều nhất 2.500.000đ, nên hai bị cáo Y và V có vai trò chính trong vụ án. Các bị cáo có số tiền tham gia đánh bạc ít hơn tiếp theo gồm bị cáo B 1.000.000đ, bị cáo S 1.000.000đ, Q 900.000đ nên các bị cáo này giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Hai bị cáo còn lại tham gia đánh bạc với số tiền ít nhất là bị cáo Q 500.000đ và bị cáo H 500.000đ nên hai bị cáo này giữ vai trò cuối cùng trong vụ án.
Các bị cáo bị phạt cải tạo không giam giữ đều được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam sau khi quy đổi theo quy định.
Về phần hình phạt bổ sung: HĐXX xem xét hoàn cảnh đa số các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo hoặc gia đình khó khăn của địa phương, hơn nữa các bị cáo đều không có công ăn, việc làm, thu nhập ổn định, đều sống ở vùng đặc biệt khó khăn, thuộc thành phần dân tộc thiểu số. Nên xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo bị cải tạo không giam giữ.
Về phần xử lý vật chứng: 01 tú lơ khơ 36 lá bài là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 7.800.000 VNĐ thu giữ tại chiếu bạc là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu xung công quỹ Nhà nước. Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2017 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Trừ các bị cáo Hà Văn Y, Lê Khắc V, Hà Công S, Lương Quang Q và Hà Công H thuộc hộ nghèo, cận nghèo; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí theo quy định. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn Y, Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lƣơng Quang Q và Hà Công H phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 60 BLHS.
Xử phạt bị cáo: Hà Văn Y 7 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2017)
Giao bị cáo Hà Văn Y cho UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS 1999; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội 14.
Xử phạt bị cáo: Lê Khắc V 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú nhận được quyết định thi hành án của Tòa án giao cho giám sát, giáo dục.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS.
Xử phạt bị cáo: Phạm Văn B 9 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi 3 ngày tạm giữ, quy đổi thành 9 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 8 (Tám) tháng 21 (Hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú nhận được quyết định thi hành án của Tòa án giao cho giám sát, giáo dục.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS.
Xử phạt bị cáo: Hà Công H 8 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi 3 ngày tạm giữ, quy đổi thành 9 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 7 (Tám) tháng 21 (Hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú nhận được quyết định thi hành án của Tòa án giao cho giám sát, giáo dục.
5. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội 14.
Xử phạt bị cáo: Lê Văn Q 7 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi 3 ngày tạm giữ, quy đổi thành 9 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 6 (Sáu) tháng 21 (Hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú nhận được quyết định thi hành án của Tòa án giao cho giám sát, giáo dục.
6. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội 14.
Xử phạt bị cáo: Lƣơng Quang Q 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi 3 ngày tạm giữ, quy đổi thành 9 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 5 (Năm) tháng 21 (Hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú nhận được quyết định thi hành án của Tòa án giao cho giám sát, giáo dục.
7. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 31 BLHS.
Xử phạt bị cáo: Hà Công S 8 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú nhận được quyết định thi hành án của Tòa án giao cho giám sát, giáo dục.
Giao các bị cáo: Lê Khắc V, Phạm Văn B, Hà Công S, Lê Văn Q, Lương Quang Q và Hà Công H cho UBND xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục và giám sát các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 36 lá bài. Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 7.800.000 VNĐ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng chẵn) thu giữ tại chiếu bạc. Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2017 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Văn B, Lê Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST. Miễn án phí HSST cho các bị cáo Hà Văn Y, Lê Khắc V, Hà Công S, Lương Quang Q và Hà Công H.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người bị thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, Tất cả các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa. Tất cả các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Như Xuân; - Công an huyện Như Xuân; - Cơ quan THA H. Như Xuân; - Các bị cáo; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Công Tuấn |