- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2017/HSST Ngày 21/12 /2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Thành
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Thủy
2. Ông Lương Văn Cường
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, Thanh Hóa.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết Thanh – Chức vụ: Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 21-12-2017 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, Tòa án nhân dân huyện Mường Lát mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Quốc T, Sinh năm 1987, nơi sinh: Xã Quảng Cát, thành phố Tanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 1, xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh ; Con ông: Hoàng Quốc T1 (Đã chết) và con bà: Lê Thị M, sinh năm 1956; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-08-2017 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1992, Nơi sinh: Xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 1, xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Văn X, sinh năm 1964 và con bà: Lê Thị N ( Đã Chết); iền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-08-1017 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ, ngày 01-8-2017 tại khu vực thuộc đia phận bản Táo, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Tổ tuần tra Đồn biên phòng Trung Lý - Bộ Đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Hoàng Quốc T, sinh năm 1982 và Nguyễn Văn C, sinh năm 1992, đều trú tại thôn1, xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về hành vi “Tàng trữ trài phép chất ma túy”, tang vật thu giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng nén rắn (nghi là heroin), Tuân và Chung khai nhận đó là heroin đã mua ở bản Khằm Nàng (Lào) của một người đàn ông dân tộc Mông quốc tịch Lào, không biết tên và địa chỉ, trên đường vận chuyển về nhà để sử dụng thì bị bắt (bút lục số 01-02).
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn C khai nhận: Ngày 31-7-2017, Nguyễn Văn C đến nhà Hoàng Quốc T tại thôn1, xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, bàn bạc với nhau là đi lên huyện Mường Lát tìm mua ma túy mang về nhà sử dụng, khoảng 01 giờ ngày 01-8-2017, Hoàng Quốc T gọi taxi Mai Linh biển kiểm soát 36A- 213.99 do anh Lê Văn T, sinh năm 1980, trú tại thôn 9, xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (người lái xe) với giá thỏa thuận 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng), đến 9 giờ 30 phút cùng ngày xe taxi chạy đến cầu G9 thuộc bản Kéo Hượn, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, thì T và C nói với T dừng xe chờ, còn Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn C đi bộ theo đường mòn đến bản Khằm Nàng (Lào) vào một nhà có người đàn ông dân tộc Mông hỏi mua 01(một) gói heroin bọc bằng nilon màu trắng với số tiền 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng), người đàn ông này còn cho T và C heroin để dùng thử, T cầm gói heroin bỏ vào túi màu đen đeo trên người đưa cho C giữ rồi đi về Việt Nam, sau đó gọi cho T lái xe taxi đến đón. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T chở T và C về đến khu vực bản Táo, xã Trung Lý, huyện Mường Lát thì bị tổ tuần tra Đồn biên phòng Trung Lý - Bộ Đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa yêu cầu dừng lại kiểm tra. Lúc này Nguyễn Văn C ngồi phía sau tự mở cửa xuống xe rồi lấy gói heroin trong túi đeo ném xuống đường thì bị phát hiện và bắt quả tang, lực lượng chức năng thu giữ 01(một) gói heroin bọc bằng nilon màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu vàng đã qua sử dụng; 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn C; 01 túi đeo màu đen, kích thước 27x 22 cm, có dây đeo màu đen (Bút lục số 47 đến 61; 66 đến 78).
Tại bản Kết luận giám định số: 1784/MT-PC54 ngày 03 tháng 8 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng nén trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng là 17,817g (Mười bảy phẩy tám trăm mười bảy gam), loại hêrôin.
Tại Cáo trạng số: 03/CTr-VKS-MT ngày 04-12-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố Hoàng Văn T và Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Áp dụng điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, thực hiện theo nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo Nghị quyết số: 41/ 2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 và khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Nên đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”.
+ Áp dụng điều luật: Điểm h Khoản 2 điều 194 BLHS năm 1999; điểm g khoản 2 điều 249 BLHS năm 2015; Điều 20, điều 33; điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự 1999 đối với các bị cáo.
+ Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Quốc T từ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng đến 7 năm tù và bị cáo Nguyễn Văn C từ 06 (Sáu) năm đến 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù
+ Về hình phạt bổ sung và vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn C nhận tội, không thay đổi, bổ sung thêm gì, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo một mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền ,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Hoàng Quốc T và Nguyễn Văn C đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định số: 1784/MT-PC54 ngày 03-8-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 01-8-2017, bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C đi xe taxi Mai Linh do anh Lê Văn T (Lái xe), biển kiểm soát 36A- 213.99 đi lên huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa và đi bộ theo đường mòn đến bản Khằm Nàng (Lào), sau đó vào một nhà có người đàn ông dân tộc Mông hỏi mua 01(một) gói heroin bọc bằng nilon màu trắng, có trọng lượng là 17,817g (Mười bảy phẩy tám trăm mười bảy gam), loại hêrôin, với số tiền 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) để sử dụng, trên đường về thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Trung lý - BĐBP Thanh Hóa bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Theo quy định tại điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, thì:
2.“ phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.
a)...........
h) Heroin hoặc cocain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;
Tuy nhiên thực hiện nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo Nghị Quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội và khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo Hoàng Quốc Tuân và bị cáo Nguyễn Văn Chung theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015 thì:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm’’.
a)........
g) Heroin, cocain, Methamphetamine,Aphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
Như vậy, hành vi tàng trữ để sử dụng17,817g (Mười bảy phẩy tám trăm mười bảy gam), loại hêrôin của các bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 tương ứng với điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã mua hêrôin với mục đích về để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, làm tổn hại đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, làm kiệt quệ về kinh tế và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Mường Lát nói riêng và xã hội nói chung. Hành vi đó của các bị cáo bị xã hội lên án, phẫn nộ, cần phải xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của bị cáo trong vụ án: Vụ án này có tính chất đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể, các bị cáo có lối sống buông thả, không chịu học tập, lao động phát triển kinh tế, mặc dù nhận thức được hình vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng cá nhân, các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy.
Đối với bị cáo Hoàng Quốc T là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo, hỏi bị cáo C hỏi có biết chỗ mua ma túy không, gọi điện thoại thuê taxi và trực tiếp mua ma túy về nhà để sử dụng. Vì vậy bị cáo giữ vai trò chính có mức án cao hơn bị cáo C.
Đối với bị cáo Nguyên Văn C khi được bị cáo T rủ lên huyện Mường Lát mua ma túy, đồng ý dẫn đường sang bản Khằm Nàng (Lào) mua 01 (một) gói heroin bọc bằng nilon màu trắng, có trọng lượng là 17,817g (Mười bảy phẩy tám trăm mười bảy gam), loại hêrôin để cùng nhau sử dụng, nên có vai trò thứ yếu và có mức án thấp hơn bị cáo T.
Với tính chất, hậu quả, nhân thân của các bị cáo cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có đủ thời gian để các bị cáo cải tạo, rèn luyện, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm p khoản1 điều 46 Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo T và bị cáo C thấy được tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 194 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là hình phạt tiền. Phạt bị cáo Hoàng Quốc T 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn) và phạt bị cáo Nguyễn Văn C 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn).
Về vật chứng: Cơ quan công an thu giữ của các bị cáo 01(một) gói heroin bọc bằng nilon màu trắng, có trọng lượng là 17,817g (Mười bảy phẩy tám trăm mười bảy gam), loại hêrôin là tang vật của vụ án, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, 01 túi đeo màu đen, kích thước 27x22 cm, có dây đeo màu đen, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu vàng, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn C không phải là công cụ, dụng cụ, phương tiện phạm tôi, căn cứ khoản 2 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, cần trả lại cho các bị cáo. Số vật chứng này hiện đang được quy trữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán heroin cho bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C là công dân nước CHDCND Lào không biết tên, địa chỉ, Công an huyện Mường Lát không đủ điều kiện xác minh làm rõ, nên không thể xử lý ở vụ án này.
Xét về phần án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 điều 46, điều 20, điều 33 Bộ luật Hình sự 1999.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Quốc T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01-8-2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01-8-2017).
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng: Khoản 5 điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.
Phạt mỗi bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn) sung công quỹ Nhà nước. Buộc các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung nộp tiền một lần trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo trong vụ án này.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 41 Bộ luật hình sự; Khoản 1; Điểm b, điểm đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy 01(một) gói heroin bọc bằng nilon màu trắng, có trọng lượng là 17,817g (Mười bảy phẩy tám trăm mười bảy gam), loại hêrôin là tang vật của vụ án, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, 01 túi đeo màu đen, kích thước 27x22 cm, có dây đeo màu đen, không có giá trị sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn văn Ch 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu vàng, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn C.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Quốc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu vàng đã qua sử dụng
Số vật chứng trên hiện đang quy trữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-10-2017 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.
Về án phí: Áp dụng: Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự (Nay là khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015); Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Bị cáo Hoàng Quốc T và bị cáo Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai; có mặt các bị cáo. Dành quyền kháng cáo cho các bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân H.Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Mường Lát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã Quảng Cát, TP Thanh Hóa; - Các Bị cáo ; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Trại Tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Quách Văn Thành |