vanban.org

Bản án 219/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo Trần Anh V, sinh năm 1984, tại tỉnh Quảng Ngãi;

Thƣờng trú: K2/70E tổ 50, khu phố 3, phƣờng Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Chạy mô tô chở khách (xe ôm công nghệ Grab bike); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo Trần Anh V, sinh năm 1984, tại tỉnh Quảng Ngãi;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 219/2023/HS-ST
Ngày 28- 7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 242/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 349/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Anh V, sinh năm 1984, tại tỉnh Quảng Ngãi; thƣờng trú: K2/70E tổ 50, khu phố 3, phƣờng B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Chạy mô tô chở khách; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Trần Văn C, sinh năm: 1958 và bà Võ Thị L, sinh năm: 1959; có 04 em ruột, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1993; có vợ Nguyễn Thị K, sinh năm 1987 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 04/4/2023, có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Huỳnh Văn Q; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trần Anh V làm nghề chạy xe ôm công nghệ (Grab bike) và nghiện ma túy từ khoảng đầu tháng 02 năm 2023 cho đến khi bị bắt, ma túy mà V sử dụng là ma túy đá, loại Methemphetamine.

Khoảng 17 giờ ngày 03/4/2023, Trần Anh V đi xe mô tô, biển số 62Z6-3159 đến khu vực “Cầu Hang” thuộc phƣờng H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp Y (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn gái của V. Y đƣa cho V 01 gói ny lon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy và Yến nói V cất giữ để tối mang đến khu vực khu nhà ở “Phú Hồng Thịnh” thuộc khu phố Nội Hóa 2, phƣờng B, thành phố D, để đón Y đi nhà nghỉ để cùng nhau sử dụng. Sau đó, V cất gói ma túy trong túi quần rồi chạy xe ôm công nghệ (Grab bike) nhƣ bình thƣờng. Đến khoảng 00 giờ ngày 04/4/2023, V điều khiển xe mô tô biển số 62Z6-3159 từ phƣờng B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi chạy qua khu vực nhà ở “Phú Hồng Thịnh” để đón Y. Khi V điều khiển xe đến đƣờng N3, khu nhà ở thƣơng mại Phú Hồng Thịnh thì bị lực lƣợng Công an phƣờng B, phối hợp với Đội Cảnh sát Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố D phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, V vứt gói ma túy xuống mặt đƣờng cách nơi V đứng khoảng 01 mét, bị lực lƣợng Công an phát hiện. Công an phƣờng B, lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Wave, biển số: 6226-3159 (Số khung: RPEWCH1PE9A032144; Số máy: VDEWQ152FMH032144).

Tại bản Kết luận giám định số: 184/KL-KTHS(MT) ngày 12/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định: mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,2010 gam.

Đối với ngƣời nữ tên Y (chƣa xác minh đƣợc nhân thân, lai lịch) đƣa ma túy cho Trần Anh V tại khu vực “Cầu Hang”, tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Tại cáo trạng số 255/CT–VKS-DA ngày 14 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Anh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Anh V mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định ký hiệu là M = 0,1770 gam, đƣợc niêm phong trong một bì thƣ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, có ghi số vụ 184/PC09, đề nghị tịch thu tiêu hủy. Xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 62Z6-3159, số khung RPEWCH1PE9A032144; số máy VDEWQ152FMH032144, Trần Anh V khai nhận mua của một ngƣời không rõ lai lịch và không có giấy tờ mua bán, V sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện phạm tội. Qua điều tra xác định chủ sở hữu xe mô tô trên đứng tên anh Võ Văn L, địa chỉ ấp Cả Nga, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Hiện anh L không có mặt tại địa phƣơng, đi đâu không rõ nên không làm việc đƣợc, đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu của xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 62Z6-3159 đúng theo quy định nhƣng vẫn không có ai đến liên hệ để làm việc. Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và ngƣời chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng cũng không khiếu nại gì.

Nội dung vụ án: Khoảng 00 giờ ngày 04/4/2023, Đội Cảnh sát Kinh tế

- Ma túy, Công an thành phố D phối hợp Công an phƣờng B tuần tra trên địa bàn phƣờng B, khi đến đƣờng N3, khu nhà ở “Phú Hồng Thịnh” thuộc khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, phát hiện Trần Anh V có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lƣợng 0,2010 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của Trần Anh V thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nhƣ vậy Cáo trạng số 255/CT–VKS-DA ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án tiền sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định: M= 0,1770 gam, đƣợc niêm phong trong một bì thƣ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, có ghi số vụ 184/PC09, tịch thu tiêu hủy. Xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 62Z6-3159, số khung RPEWCH1PE9A032144; số máy VDEWQ152FMH032144, tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc.

Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với tính chất mức độ và nhân thân của bị cáo, nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt trong mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.

Đối với ngƣời phụ nữ tên Y, đƣa ma túy cho V hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Anh V 01 (một) năm 03 (ba) tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Số lƣợng ma túy còn lại sau giám định, ký hiệu M= 0,1770 gam, đƣợc niêm phong trong một bì thƣ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, có ghi số vụ 184/PC09.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: Xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 62Z6-3159,

số

khung

RPEWCH1PE9A032144;

số

máy VDEWQ152FMH032144;

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/7/2023, bút lục 77).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Anh V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo (01);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tp Dĩ An (01);

- Công an tp Dĩ An (01);

- Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);

- Chi cục THADS tp Dĩ An (01);

- TAND tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Phòng PV 66 CA tỉnh BD (01);

- Phòng PC 10 CA tỉnh BD (01);

Đặng Ngọc Quân

- UBND xã bị cáo TT (01);

- Lƣu: VT, HSVA (02). TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ DĨ AN

Độc lập –Tự do –Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG

Dĩ An, ngày 28 tháng 7 năm 2023

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Vào hồi giờ phút, ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 242/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo Trần Anh V bị truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trƣờng hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

2. Trong các giai đoạn tố tụng, những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử đánh giá hợp pháp.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

3. Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Có căn cứ kết tội bị cáo Trần Anh V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

4. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Anh V 01 (một) năm 03 (ba) tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2023.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

5. Bị cáo không thuộc trƣờng hợp miễn chấp hành trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

6. Các vấn đề khác:

6.1 Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Số lƣợng ma túy còn lại sau giám định, ký hiệu M= 0,1770 gam, đƣợc niêm phong trong một bì thƣ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, có ghi số vụ 184/PC09.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: Xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 62Z6-3159,

số

khung

RPEWCH1PE9A032144;

số

máy VDEWQ152FMH032144;

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/7/2023, bút lục 77).

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

6.2 Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Lâm phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

7. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

8. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có.

Kết qủa tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

Nghị án kết thúc hồi giờ phút ngày tháng năm 2023.

Biên bản nghị án đã đƣợc đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ DĨ AN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: /2023/HSST-QĐTG

Dĩ An, ngày 28 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông…………;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

Căn cứ các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.

Tạm giam bị cáo Trần Anh V, sinh năm 1984, tại tỉnh Quảng Ngãi;

Thƣờng trú: K2/70E tổ 50, khu phố 3, phƣờng Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;

Nghề nghiệp: Chạy mô tô chở khách (xe ôm công nghệ Grab bike);

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mƣơi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 28/7/2023.

Điều 2.

Cơ sở giam giữ Nhà tạm giữ Công An thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng có trách nhiệm thi hành Quyết định này. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố Dĩ An;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Nhà tạm giữ Công an tp Dĩ An;

- Bị cáo;

- Lƣu hồ sơ vụ án.

Đặng Ngọc Quân TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ DĨ AN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: /2023/TL - BA

Dĩ An, ngày tháng năm 2023

TRÍCH LỤC BẢN ÁN

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2023/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1996 tại tỉnh Hậu Giang; thƣờng trú: Ấp Tân Hƣng, thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Hung, sinh năm 1965 và bà Lý Thị Bé, sinh năm: 1965; có 02 chị ruột, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1987; tiền án: Không, tiền sự: Có 01, theo Quyết định số 106/QĐ-TA ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng; bị bắt tạm giam ngày 15/01/2023.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

ĐÃ QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Lâm phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Lâm 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định là 2,4017 gam, đƣợc niêm phong trong một bì thƣ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ghi số vụ 49/PC09 và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy (01 chai nhựa và 02 đoạn ống hút nhựa). (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2023, bút lục 87).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Lâm phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trích lục bản án có hiệu lực pháp luật để thi hành.

Cỡ chữ